1. Triết lý vì Dân
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, triết lý “Vì dân” không chỉ là điểm khởi đầu mà còn là đích đến xuyên suốt của toàn bộ tư duy và hành động cách mạng. Người khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân”[1]. Nhân dân vừa là chủ thể của quyền lực, vừa là mục tiêu tối thượng của sự nghiệp cách mạng, Đảng, Nhà nước và đội ngũ cán bộ chỉ là người đại diện, thừa hành và phục vụ.
Triết lý Vì dân trước hết là lấy hạnh phúc, ấm no của Nhân dân làm thước đo cao nhất của mọi chính sách. Hồ Chí Minh từng nói một cách giản dị mà sâu sắc: “Nếu nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”[2]. Ở đây, Người đã đặt ra một chuẩn mực giá trị vượt thời đại: độc lập dân tộc phải gắn liền với đời sống thực chất của Nhân dân, không phải bằng khẩu hiệu mà bằng kết quả cụ thể. Triết lý Vì dân xác lập vai trò chủ thể lịch sử của Nhân dân. Nhân dân là lực lượng tiến hành cách mạng, đồng thời được thụ hưởng thành quả cách mạng. Vì thế phải luôn trọng dân, tin dân, dựa vào dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Triết lý vì Dân không chỉ là yêu cầu phẩm chất chính trị mà còn trở thành chân lý “việc gì có lợi cho dân thì hết sức làm, việc gì có hại cho dân thì hết sức tránh” của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Có thể nói, đây là triết lý cốt lõi, bền vững, mang giá trị nền tảng, làm nên bản chất cách mạng, nhân văn và sức sống bền vững của tư tưởng Hồ Chí Minh.
Trong bối cảnh và điều kiện mới hiện nay, Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định và làm sâu sắc hơn triết lý Vì dân của Hồ Chí Minh, thể hiện ở cả tư duy phát triển lẫn mục tiêu chiến lược. Tư tưởng chỉ đạo có tính nhất quán coi con người là trung tâm, là chủ thể, là mục tiêu và là động lực của sự phát triển. Đây chính là sự kế thừa trực tiếp tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa Đảng - Nhà nước - Nhân dân. Điều này không chỉ dừng lại ở tuyên ngôn chính trị, mà được cụ thể hóa bằng yêu cầu phát triển toàn diện con người Việt Nam, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước và từng chính sách phát triển. Trong định hướng phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững, gắn tăng trưởng kinh tế với nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân. Tăng trưởng gắn liền với an sinh, phúc lợi xã hội và bảo vệ môi trường chính là cách tiếp cận phát triển rất gần với tinh thần “mang lại quyền lợi cho dân chúng số nhiều” của Hồ Chí Minh.
Để hiện thực hóa, Đại hội XIV đặt yêu cầu rất cao trong việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với trách nhiệm trước Nhân dân. Tiếp tục nhấn mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; kiên quyết đấu tranh với chủ nghĩa cá nhân, lợi ích nhóm; xây dựng đội ngũ cán bộ phải có Đức - Sức - Tài chính là sự vận dụng trực tiếp triết lý Vì dân vào công tác xây dựng Đảng trong điều kiện mới. Tổng Bí thư Tô Lâm nhiều lần khẳng định, mục tiêu cao nhất của công cuộc chỉnh đốn Đảng là để Đảng trong sạch, vững mạnh hơn, xứng đáng với niềm tin, kỳ vọng của Nhân dân.
2. Triết lý Hành động
Một trong những giá trị đặc sắc làm nên sức sống thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh chính là triết lý Hành động. Đó là triết lý coi hành động cách mạng là thước đo chân lý của tư tưởng, là nơi thể hiện rõ nhất bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo và trách nhiệm trước Nhân dân. Với Hồ Chí Minh, tư tưởng thống nhất hành động, lý luận gắn liền thực tiễn, lời nói đi đôi với việc làm. Người coi đây vừa là nguyên tắc lãnh đạo, vừa là chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên. Bởi “một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”[3]. Triết lý ấy thể hiện quan niệm rất hiện đại: sức thuyết phục của Đảng không nằm ở lời nói, mà ở kết quả hành động cụ thể trong thực tiễn. Cạnh đó, Hồ Chí Minh đặc biệt đề cao tính quyết đoán, kịp thời trong hành động cách mạng. Khi thời cơ chín muồi, đứng trước thời điểm mang tính bước ngoặt thì cán bộ cần phải “có gan phụ trách, có gan làm việc”[4], tuyệt đối tránh “xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh”[5]. Đây là biểu hiện tập trung của triết lý Hành động Hồ Chí Minh gắn với bản lĩnh, trí tuệ và dám chịu trách nhiệm trước Nhân dân.
Tiếp nối tinh thần dấn thân và hành động, Đại hội XIV của Đảng thể hiện rõ sự kế thừa và phát triển triết lý Hành động Hồ Chí Minh, đặc biệt trong yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo và tổ chức thực hiện nghị quyết. Đảng đã nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ chủ trương đúng sang hành động hiệu quả; từ nói, ban hành nghị quyết sang làm và làm đến cùng; coi kết quả thực tiễn với những sản phẩm cụ thể là tiêu chí đánh giá năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng. Đây là sự vận dụng trực tiếp triết lý Hành động Hồ Chí Minh về việc lấy hiệu quả thực tế làm thước đo giá trị của đường lối. Muốn vậy, Đại hội lần này đặt yêu cầu cao hơn đối với kỷ luật, kỷ cương, trách nhiệm cá nhân, nhất là trách nhiệm người đứng đầu. Điều này phản ánh rõ tinh thần Hồ Chí Minh về nêu gương trong hành động - nơi mà người lãnh đạo phải nghĩ trước, làm trước, chịu trách nhiệm trước. Khi trách nhiệm được cụ thể hóa rõ người, rõ việc thì mới tránh được tình trạng né tránh, đùn đẩy, hình thức.
Trong các phát biểu chỉ đạo gần đây, Tổng Bí thư Tô Lâm nhiều lần nhấn mạnh yêu cầu hành động quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả, “biến ý chí thành hành động, biến quyết sách thành kết quả cụ thể; nói là làm, làm ngay, làm đúng, làm quyết liệt, làm đến cùng và làm hiệu quả”[6]. Quan điểm này thể hiện rõ sự kế thừa triết lý Hành động của Hồ Chí Minh trong điều kiện mới, đồng thời đáp ứng đòi hỏi cấp bách của sự nghiệp phát triển đất nước. Hành động hôm nay không chỉ để hoàn thành nhiệm vụ trước mắt, mà còn để tạo nền tảng cho các mục tiêu chiến lược đến năm 2030, tầm nhìn 2045. Có thể khẳng định, triết lý Hành động của Hồ Chí Minh chính là chìa khóa bảo đảm cho các quyết sách của Đại hội XIV không dừng lại ở tầm định hướng, mà trở thành sức mạnh vật chất trong đời sống xã hội. Khi tinh thần dấn thân, hành động thấm sâu vào tư duy và phong cách lãnh đạo của Đảng, thì nghị quyết mới thực sự đi vào cuộc sống, tạo niềm tin và sự đồng thuận xã hội.
3. Triết lý Sáng tạo
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, triết lý Sáng tạo giữ một vị trí đặc biệt, thể hiện tầm nhìn vượt thời đại và bản lĩnh tư duy độc lập, tự chủ của một nhà cách mạng lớn. Sáng tạo Hồ Chí Minh trên nền tảng kiên định mục tiêu chiến lược, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam và phù hợp với xu thế phát triển của thời đại. Triết lý này đã giúp cách mạng Việt Nam vượt qua nhiều thử thách cam go, đồng thời tiếp tục soi sáng con đường phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà cách mạng sáng tạo, với tinh thần sáng tạo gắn với tư duy độc lập, tự chủ, biết kế thừa có chọn lọc tinh hoa nhân loại, đồng thời bám sát điều kiện cụ thể của Việt Nam. Người luôn yêu cầu cán bộ phải biết “xem xét kỹ lưỡng hoàn cảnh thiết thực của nước ta”, coi đó là điểm xuất phát của mọi chủ trương, chính sách. Sáng tạo, theo Hồ Chí Minh, không phải để khác biệt cho bằng được, mà để tìm ra con đường phù hợp nhất, hiệu quả nhất cho dân tộc. Triết lý Sáng tạo của Hồ Chí Minh còn thể hiện ở khả năng kết hợp nhuần nhuyễn giữa chiến lược và sách lược cách mạng với phương châm dĩ bất biên ứng vạn biến. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, Người cũng kiên định mục tiêu chiến lược, nhưng luôn linh hoạt về sách lược, phương pháp. Chính sự sáng tạo ấy đã làm nên những quyết sách mang tính đột phá trong lịch sử cách mạng Việt Nam.
Đại hội XIV của Đảng đã thể hiện rõ tinh thần sáng tạo của Hồ Chí Minh, đặc biệt trong cách tiếp cận các vấn đề phát triển đất nước trong bối cảnh mới. Trong đó, nhấn mạnh yêu cầu đổi mới tư duy phát triển, hoàn thiện thể chế, phát huy mạnh mẽ các động lực mới của tăng trưởng, coi khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực phát triển mạnh mẽ đất nước. Đây chính là sự vận dụng sâu sắc triết lý sáng tạo của Hồ Chí Minh trong điều kiện kinh tế tri thức và cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Thay vì sao chép mô hình phát triển, Đảng chủ trương xây dựng mô hình phát triển trên mảnh đất thực tiễn Việt Nam, phù hợp với trình độ phát triển và yêu cầu hội nhập quốc tế sâu rộng. Trong đó, khuyến khích can bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá với tinh thần năng động, sáng tạo.
Triết lý Sáng tạo Hồ Chí Minh cũng được Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhiều lần nhấn mạnh yêu cầu đổi mới mạnh mẽ tư duy, cách làm, coi sáng tạo là điều kiện tiên quyết để đất nước bứt phá trong giai đoạn mới. Tinh thần xuyên suốt là “phải tiếp tục đổi mới tư duy, đổi mới mô hình phát triển, mô hình tăng trưởng, đổi mới biện pháp tổ chức thực hiện, để đường lối đúng trở thành kết quả cụ thể trong cuộc sống”[7]. Quan điểm này phản ánh rõ sự kế thừa triết lý Sáng tạo của Hồ Chí Minh trong điều kiện mới, đồng thời gắn sáng tạo với trách nhiệm chính trị và đạo đức công vụ. Sáng tạo phải đi đôi với kỷ cương, đổi mới phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng và phục vụ mục tiêu phát triển bền vững đất nước. Có thể khẳng định, triết lý Sáng tạo của Hồ Chí Minh chính là nguồn động lực tư tưởng quan trọng, góp phần khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Việc kế thừa và phát huy triết lý này trong Đại hội XIV không chỉ thể hiện bản lĩnh trí tuệ của Đảng, mà còn mở ra những không gian phát triển mới, tạo nền tảng vững chắc để Việt Nam tự tin bước vào kỷ nguyên phát triển mới./.
Ban Biên tập cổng TTĐT
(TS. Phạm Văn Hòa, Khoa Tư tưởng Hồ Chí Minh - Học viện Chính trị khu vực III)
[1]Hồ Chí Minh toàn tập. Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, 2011, tập 6, tr.232.
[2]Hồ Chí Minh toàn tập. Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, 2011, tập 4, tr.64.
[3]Hồ Chí Minh toàn tập. Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, 2011, tập 1, tr.284.
[4]Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, tập 5, tr.320
[5]Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, tập 15, tr.547.
[6] https://vov.vn/chinh-tri/toan-van-dien-van-be-mac-dai-hoi-xiv-cua-dang-cua-tong-bi-thu-to-lam-post1263733.vov
[7] https://tuoitre.vn/toan-van-phat-bieu-cua-tong-bi-thu-to-lam-tai-be-mac-dai-hoi-dang-xiv-20260123174601193.htm