Sign In

ĐẠI HỘI XIV VỚI KHÁT VỌNG PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC TRONG KỶ NGUYÊN MỚI

10:27 06/05/2026

Chọn cỡ chữ A a    

Tóm tắt: Đại hội XIV của Đảng xác lập khát vọng đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển vào giữa thế kỷ XXI, xem đây là mục tiêu trọng tâm của chiến lược đất nước trong kỷ nguyên mới. Bài viết làm rõ quan điểm của Đảng về mục tiêu, tầm nhìn phát triển đất nước, đồng thời, phân tích ba đột phá chiến lược: về thể chế và thực thi; nguồn nhân lực gắn với khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại là những động lực then chốt tháo gỡ điểm nghẽn, tạo sức bật mới. Thực hiện hiệu quả ba đột phá này sẽ quyết định thành công khát vọng đưa đất nước vươn mình trong kỷ nguyên mới. Từ khóa: Đại hội XIV, đột phá chiến lược, khát vọng phát triển, kỷ nguyên mới…

 


1. Mở đầu 

Theo cách hiểu phổ quát, khát vọng “là một trạng thái tinh thần, phản ánh sự ước ao, mong muốn thiết tha của con người về những điều lớn lao, tốt đẹp với sự thôi thúc mạnh mẽ”1. Khát vọng phát triển của một dân tộc là sự cộng hưởng những khát vọng vươn lên của cộng đồng, của con người cùng quốc gia - dân tộc, tạo thành nguồn năng lượng nội sinh to lớn, sống động và sức mạnh vô song. Đó chính là động lực trung tâm của một quốc gia - dân tộc trên con đường đi tới tương lai2. Ở Việt Nam, tiếp nối khát vọng phát triển đất nước trong chiều dài lịch sử dân tộc, Đại hội XIV - khởi đầu cho kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc, với khát vọng phát triển đất nước lên một tầm cao mới giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.

2. Nội dung

2.1. Khát vọng phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Ngay từ buổi đầu dựng nước, dân tộc Việt Nam đã hình thành ý chí và khát vọng xây dựng một quốc gia độc lập, phồn vinh. Trải dài hơn một nghìn năm Bắc thuộc, thế lực ngoại bang liên tục mưu toan đồng hóa, nhưng tinh thần quật cường, dân tộc Việt Nam không bao giờ bị khuất phục. Lời thề của Triệu Thị Trinh: “Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ chứ tôi không chịu khom lưng làm tì thiếp người ta”3, trở thành biểu tượng sớm nhất của ý chí quật cường và khát vọng độc lập, tự do của dân tộc.

Giành lại quyền tự chủ, các triều đại phong kiến Việt Nam luôn hun đúc ý chí bảo vệ non sông và phát triển đất nước. Từ chiến thắng quân Nguyên - Mông thời Trần đến những chiến công hiển hách của phong trào Tây Sơn chống quân Thanh, tinh thần đoàn kết toàn dân tộc và ý chí tự cường được phát huy cao độ. Những thắng lợi đó không chỉ bảo vệ vững chắc chủ quyền, mà còn khẳng định ý chí tự cường và khát vọng phát triển của dân tộc Việt Nam trong suốt tiến trình lịch sử.

Khi thực dân Pháp xâm lược, đất nước mất độc lập, nhân dân mất tự do. Trong đêm dài nô lệ, khát vọng lớn nhất của Nhân dân ta là giải phóng dân tộc. Các phong trào yêu nước cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX tuy chưa thành công nhưng đã khơi dậy mạnh mẽ tinh thần đấu tranh, hun đúc ý chí không cam chịu mất nước. Khát vọng ấy được nâng lên tầm vóc thời đại dưới ánh sáng tư tưởng và sự dẫn đường của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. Với mục tiêu thiêng liêng “Độc lập cho Tổ quốc, tự do cho đồng bào”, Người đã tìm ra con đường giải phóng dân tộc gắn liền với lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã khai mở một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội.

Trong các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” trở thành mệnh lệnh của thời đại, thôi thúc toàn dân tộc vượt qua hy sinh, gian khổ để giành thắng lợi cuối cùng. Ngay trong chiến tranh ác liệt, Hồ Chí Minh đã xác lập định hướng phát triển lâu dài, xây dựng một đất nước “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”, gắn với mục tiêu không ngừng nâng cao đời sống nhân dân.

Sau khi đất nước thống nhất, Việt Nam bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, toàn dân chung sức, đồng lòng, quyết tâm khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục kinh tế, tăng cường quốc phòng và bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền. Khát vọng lúc này không chỉ là bảo vệ thành quả cách mạng, mà còn đưa đất nước thoát khỏi đói nghèo, lạc hậu, vươn lên phát triển.

Bước vào thời kỳ đổi mới, qua các kỳ Đại hội Đảng ta tiếp tục cụ thể hóa khát vọng phát triển bằng những mục tiêu chiến lược phù hợp với từng giai đoạn. Tại Đại hội XIII, đánh dấu bước phát triển mới trong nhận thức và hành động khi lần đầu tiên khẳng định rõ ràng yêu cầu “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”, coi đây là động lực tinh thần quan trọng của toàn dân tộc.

Qua 40 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên nhiều lĩnh vực. Từ một nền kinh tế còn nhiều khó khăn, Việt Nam đã vươn lên với quy mô và tiềm lực ngày càng lớn, hội nhập ngày càng sâu rộng với thế giới; đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt; vị thế, uy tín quốc tế của đất nước không ngừng nâng cao; hệ thống chính trị được củng cố, quốc phòng, an ninh được giữ vững... Những thành tựu đó không chỉ khẳng định tính đúng đắn của đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, mà còn tạo dựng thế và lực mới, củng cố niềm tin và khơi dậy mạnh mẽ khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc trong toàn xã hội.

Đại hội XIV (2026) của Đảng, với phương châm: “Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Đột phá - Phát triển”, đã xác định mục tiêu phát triển tổng quát: “Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phát triển nhanh, bền vững đất nước; cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống nhân dân; tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên mới của dân tộc; thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao, là một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc”4. Đây là khát vọng phát triển đất nước được xác định cụ thể, rõ ràng, trên cơ sở tổng kết, đánh giá khách quan về thành tựu đạt được sau 40 năm đổi mới, đồng thời là sự kết tinh ý chí, khát vọng và niềm tin của toàn dân tộc về một giai đoạn phát triển bứt phá, đưa đất nước vươn lên tầm cao mới.

Điểm mới quan trọng là khát vọng phát triển đất nước được đặt gắn chặt với yêu cầu “vươn mình” - tức là bứt phá khỏi giới hạn phát triển cũ, vượt qua nguy cơ tụt hậu, vươn lên nhóm các quốc gia phát triển. Điều đó đòi hỏi không chỉ tăng trưởng về lượng, mà còn chuyển biến về chất: từ kinh tế dựa vào tài nguyên và lao động giá rẻ sang kinh tế tri thức; từ phát triển theo chiều rộng sang phát triển dựa trên năng suất, sáng tạo và chất lượng nguồn nhân lực; từ hội nhập thụ động sang chủ động tham gia định hình chuỗi giá trị toàn cầu.

2.2. Các đột phá hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, Đại hội XIV Đảng ta đã xác định 5 quan điểm chỉ đạo lớn, 12 định hướng lớn, 6 nhiệm vụ trọng tâm, cùng với đó là các giải pháp cụ thể. Đặc biệt, Đại hội XIV xác định ba đột phá chiến lược nhằm tập trung tháo gỡ những “điểm nghẽn” của quá trình phát triển. Đảng ta khẳng định, bước vào kỷ nguyên mới, yêu cầu đặt ra là “phải làm thật mạnh, làm thật nhanh, làm đến nơi đến chốn vì đây là những đòn bẩy quyết định để đất nước bứt phá”5.

Thứ nhất, đột phá về thể chế và thực thi

Trong lý luận phát triển hiện đại, thể chế không đơn thuần là khuôn khổ luật pháp và chính sách, mà còn là tổng hòa các cơ chế vận hành, phương thức tổ chức quyền lực và hiệu lực thực thi của bộ máy nhà nước. Đột phá về thể chế và thực thi vì vậy giữ vai trò nền tảng, quyết định khả năng giải phóng nguồn lực xã hội, khơi thông động lực phát triển và bảo đảm sự vận hành hiệu quả của nền kinh tế. 

Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, khi yêu cầu đặt ra không chỉ là “tăng trưởng” mà còn là “bứt phá”, “bền vững” và “tự chủ chiến lược”, vai trò của đột phá thể chế càng trở nên then chốt. Đây là điều kiện tiên quyết để tạo lập môi trường ổn định, minh bạch, chuyển hóa khát vọng phát triển thành các chương trình hành động cụ thể, khả thi. Không có đột phá thể chế thực chất thì các đột phá về hạ tầng và nguồn nhân lực khó phát huy hiệu quả.

Trong thời kỳ đổi mới, việc xây dựng và hoàn thiện thể chế đã đạt nhiều kết quả quan trọng. Hệ thống pháp luật từng bước được hoàn thiện theo hướng đồng bộ hơn với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; cải cách hành chính, chuyển đổi số trong quản trị nhà nước được thúc đẩy; phân cấp, phân quyền từng bước được mở rộng... Những kết quả đó đã góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, củng cố niềm tin xã hội và tạo nền tảng cho phát kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, trong thực tiễn cũng bộc lộ không ít hạn chế, “việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường còn chậm, chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường, xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Một số luật, cơ chế, chính sách, quy định, thủ tục hành chính còn mâu thuẫn, chồng chéo, thiếu đồng bộ, gây cản trở đối với sự phát triển”6. Đáng chú ý, “điểm nghẽn” lớn không chỉ nằm ở khâu ban hành chính sách mà còn ở năng lực và trách nhiệm thực thi. Tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”, né tránh, sợ sai trong thực thi công vụ; kỷ luật, kỷ cương hành chính chưa nghiêm; chất lượng một bộ phận đội ngũ cán bộ, công chức chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ… đang làm suy giảm hiệu lực của hệ thống thể chế đã được thiết lập.

Những hạn chế đó cho thấy yêu cầu đổi mới thể chế hiện nay không chỉ dừng lại ở việc “hoàn thiện luật”, mà phải tiến tới “hiện đại hóa phương thức thực thi”, hệ thống thể chế phải đạt ba thuộc tính cơ bản: tính đồng bộ, tính minh bạch và tính hiệu quả thực thi. Đây chính là yêu cầu cốt lõi của đột phá thể chế trong Đại hội XIV, cụ thể: 

(i) Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện đại, minh bạch, ổn định, có khả năng dự báo, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và tiến trình hội nhập quốc tế sâu rộng. Trọng tâm là kịp thời thể chế hóa đầy đủ, nhất quán các chủ trương, đường lối của Đảng; khắc phục tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn trong quy định pháp luật; nâng cao chất lượng công tác xây dựng chính sách trên cơ sở khoa học, thực tiễn và đánh giá tác động toàn diện.

(ii) Đổi mới mạnh mẽ phương thức tổ chức và vận hành bộ máy nhà nước theo tinh thần “kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động, phục vụ”. Đẩy mạnh cải cách hành chính, chuyển đổi số trong hoạt động công vụ; đơn giản hóa thủ tục; rút ngắn quy trình giải quyết công việc; lấy mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp làm thước đo đánh giá hiệu quả hoạt động của cơ quan nhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức.

(iii) Tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong thực thi công vụ; xác lập rõ trách nhiệm cá nhân gắn với kết quả thực hiện nhiệm vụ; bảo đảm mọi chủ trương, chính sách đều có lộ trình triển khai cụ thể, nguồn lực bảo đảm và cơ chế kiểm tra, giám sát chặt chẽ. Đồng thời, có cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; kiên quyết khắc phục tình trạng né tránh, đùn đẩy, sợ sai trong thực thi nhiệm vụ.

(iv) Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với kiểm soát quyền lực hiệu quả; phát huy tính chủ động, sáng tạo của các cấp, các ngành và địa phương, đồng thời bảo đảm sự thống nhất trong quản lý nhà nước và tuân thủ nghiêm pháp luật. Đây là yêu cầu quan trọng nhằm giải phóng nguồn lực, khơi thông động lực và nâng cao hiệu quả điều hành phát triển.

(v) Thiết lập cơ chế phối hợp liên ngành, liên cấp đồng bộ, thông suốt; mở rộng sự tham gia của nhân dân, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội trong xây dựng và giám sát thực thi chính sách; qua đó bảo đảm thể chế không chỉ được thiết kế đúng mà còn được vận hành thực chất, hiệu quả.

Thứ hai, đột phá về nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao gắn với khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo

Trong bối cảnh hiện nay, nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao ngày càng trở thành yếu tố quan trọng quyết định năng lực cạnh tranh và mức độ tự chủ phát triển của mỗi quốc gia. Đối với Việt Nam, khi dư địa tăng trưởng dựa vào tài nguyên và lao động giá rẻ ngày càng thu hẹp, việc tạo đột phá về nguồn nhân lực gắn với khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo không chỉ là yêu cầu khách quan, mà còn là con đường tất yếu để hiện thực hóa khát vọng phát triển nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới.

Đột phá về nguồn nhân lực vì vậy giữ vai trò “động lực của động lực”, trực tiếp nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng và hình thành lực lượng sản xuất mới. Đồng thời, đây cũng là yếu tố then chốt bảo đảm khả năng tiếp thu, làm chủ và sáng tạo công nghệ, qua đó nâng cao vị thế quốc gia trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Những năm gần đây, Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả quan trọng trong phát triển nguồn nhân lực cả số lượng, chất lượng và cơ cấu. Đây là nền tảng quan trọng để đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với tầm nhìn dài hạn. Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy nhiều hạn chế. Chất lượng nguồn nhân lực chưa theo kịp yêu cầu phát triển kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tri thức; thiếu hụt đội ngũ chuyên gia đầu ngành, nhà khoa học trình độ cao và lao động kỹ thuật bậc cao; cơ cấu đào tạo chưa thật sự gắn với nhu cầu thị trường lao động; năng lực nghiên cứu, đổi mới sáng tạo còn phân tán; chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài chưa đủ mạnh. Đối với khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo “chưa trở thành động lực chính cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển đất nước”7.

Những hạn chế đó đang trở thành “điểm nghẽn mềm” trong tiến trình phát triển, nếu không được tháo gỡ kịp thời sẽ cản trở mục tiêu bứt phá trong giai đoạn tới. Nhận thức rõ điều đó, Đại hội XIV tiếp tục nhấn mạnh đột phá về nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao gắn với khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, cụ thể: 

(i) Đổi mới căn bản và toàn diện hệ thống giáo dục và đào tạo theo hướng mở, linh hoạt, hiện đại, phát triển năng lực tư duy, sáng tạo và kỹ năng số của người học; coi trọng giáo dục nền tảng, giáo dục STEM và đào tạo các ngành khoa học - công nghệ mũi nhọn, đáp ứng yêu cầu của kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tri thức.

(ii) Gắn kết chặt chẽ đào tạo với nhu cầu thị trường lao động và chiến lược phát triển ngành, vùng; thúc đẩy mô hình hợp tác giữa nhà nước, cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu và doanh nghiệp; bảo đảm chương trình đào tạo sát thực tiễn sản xuất - kinh doanh, nâng cao khả năng thích ứng nghề nghiệp và học tập suốt đời của lực lượng lao động.

(iii) Tăng cường năng lực số của nguồn nhân lực quốc gia; phổ cập kỹ năng số cơ bản cho toàn xã hội; đồng thời xây dựng lực lượng chuyên gia công nghệ, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo có trình độ cao, đủ năng lực làm chủ và sáng tạo công nghệ cốt lõi.

(iv) Hình thành đội ngũ cán bộ quản lý, chuyên gia, doanh nhân, nhà khoa học, nhà giáo và công nhân kỹ thuật bậc cao có phẩm chất, năng lực và uy tín; có cơ chế phát hiện, bồi dưỡng, thu hút và trọng dụng nhân tài trong và ngoài nước; xây dựng môi trường làm việc và nghiên cứu thuận lợi để nhân lực chất lượng cao yên tâm cống hiến lâu dài.

(v) Phát triển hệ sinh thái khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; đẩy mạnh liên kết nghiên cứu - đào tạo - sản xuất; tăng đầu tư cho nghiên cứu khoa học và thương mại hóa kết quả nghiên cứu; hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, hình thành lực lượng sản xuất mới dựa trên tri thức.

Thứ ba, đột phá về kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại

Kết cấu hạ tầng là một trong những nền tảng vật chất - kỹ thuật quan trọng nhất của quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Trong mô hình tăng trưởng hiện đại, hạ tầng không chỉ bao gồm hệ thống giao thông, năng lượng, đô thị và logistics, mà còn mở rộng sang hạ tầng số, hạ tầng dữ liệu và hạ tầng đổi mới sáng tạo. Do đó, đột phá về kết cấu hạ tầng giữ vai trò “mở đường”, tạo điều kiện kết nối không gian phát triển, thúc đẩy lưu thông nguồn lực và hình thành các cực tăng trưởng mới.

Trong thời kỳ đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng. Mạng lưới giao thông từng bước được mở rộng; nhiều tuyến cao tốc, cảng biển, sân bay và công trình trọng điểm quốc gia được đưa vào khai thác; hạ tầng năng lượng, viễn thông và đô thị có bước tiến đáng kể; hạ tầng số được chú trọng phát triển. Những kết quả đó đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng, tăng cường kết nối vùng và cải thiện đời sống nhân dân, song hệ thống hạ tầng vẫn còn những hạn chế, điểm nghẽn đáng lưu ý. “Kết cấu hạ tầng chưa đồng bộ, còn yếu, thiếu và chưa theo kịp với yêu cầu”8. Cụ thể là, tính đồng bộ và kết nối liên vùng chưa cao; năng lực logistics còn hạn chế; chi phí vận tải và lưu thông hàng hóa ở mức cao so với khu vực; hạ tầng năng lượng đối mặt áp lực chuyển đổi xanh; hạ tầng số phát triển chưa đồng đều; nguồn lực đầu tư còn phân tán; cơ chế huy động vốn ngoài nhà nước chưa thực sự hiệu quả. Đây là những “nút thắt cứng” đang cản trở quá trình nâng cao năng lực cạnh tranh và thu hút đầu tư.

Khát vọng đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển vào giữa thế kỷ XXI đòi hỏi phải xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng hiện đại, đồng bộ, có khả năng dẫn dắt không gian phát triển và thích ứng với xu hướng chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và kinh tế tuần hoàn. Nhận thức rõ điều đó, Đại hội XIV tiếp tục nhấn mạnh đột phá về kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, cụ thể:

(i) Ưu tiên phát triển hạ tầng giao thông chiến lược là động lực mở rộng không gian phát triển, tập trung xây dựng mạng kết nối quốc gia và liên vùng hiện đại, đồng bộ, từ đường bộ cao tốc, đường sắt tốc độ cao đến cảng biển, sân bay và hệ thống logistics. Trên nền tảng đó, hình thành các hành lang kinh tế, vùng động lực tăng trưởng và cấu trúc phát triển mới theo quy hoạch tổng thể quốc gia.

(ii) Đẩy mạnh đầu tư hạ tầng năng lượng theo hướng đa dạng hóa nguồn cung, phát triển mạnh năng lượng tái tạo, năng lượng sạch và lưới điện thông minh; bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đồng thời đáp ứng yêu cầu chuyển đổi xanh và cam kết giảm phát thải.

(iii) Phát triển hạ tầng đô thị hiện đại, thông minh và bền vững, lấy chất lượng đô thị hóa làm trọng tâm. Trên cơ sở đó, nâng cao năng lực cung ứng dịch vụ công, phát triển giao thông công cộng và nhà ở, đồng thời hình thành các đô thị có khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu và thích ứng yêu cầu phát triển bền vững.

(iv) Ưu tiên phát triển hạ tầng viễn thông và đặc biệt là hạ tầng số, hạ tầng dữ liệu quốc gia; xây dựng nền tảng kết nối số an toàn, tin cậy; thúc đẩy kinh tế số, chính phủ số và xã hội số; coi đây là kết cấu hạ tầng mới có vai trò dẫn dắt mô hình tăng trưởng trong kỷ nguyên chuyển đổi số.

(v) Phát triển hạ tầng thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường; lồng ghép các tiêu chuẩn xanh trong đầu tư xây dựng; tăng cường khả năng phòng, chống thiên tai và quản lý rủi ro; bảo đảm phát triển hài hòa giữa kinh tế - xã hội - môi trường.

(vi) Tái cấu trúc không gian phát triển mới theo quy hoạch tổng thể quốc gia, tăng cường liên kết đa chiều giữa các vùng và địa phương, mở rộng kết nối khu vực và toàn cầu. Qua đó, khẳng định vai trò hạt nhân của các trung tâm kinh tế lớn, vùng động lực và hành lang kinh tế chiến lược trong thúc đẩy tăng trưởng đất nước.

Mỗi đột phá có một vai trò, yêu cầu riêng, tuy nhiên không tách rời mà trong chỉnh thể thống nhất, có quan hệ hữu cơ. Đảng ta khẳng định: “Thể chế mở đường; nhân lực quyết định tốc độ và chất lượng; hạ tầng tạo rakhông gian và sức bật. Nếu làm đồng bộ, chúng ta sẽ tạo ra “đà” mới và “thế” mới; nếu làm nửa vời, chúng ta sẽ tự đánh mất cơ hội”9.

3. Kết luận

Đại hội XIV khẳng định tầm nhìn chiến lược của Đảng trong việc xác lập khát vọng phát triển đất nước mạnh mẽ trong kỷ nguyên mới. Mục tiêu mà Đảng đề ra không chỉ kế thừa truyền thống khát vọng của dân tộc, thành tựu 40 năm đổi mới, mà còn phản ánh sự nhận thức sâu sắc về quy luật vận động của thời đại, thể hiện tính đúng đắn và khoa học của đường lối đổi mới. Ba đột phá chiến lược trong Đại hội XIV là những quyết sách quan trọng, thể hiện tư duy phát triển mới của Đảng nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn và tạo động lực bứt phá trong kỷ nguyên mới. Thực hiện thành công ba đột phá chiến lược chính là điều kiện tiên quyết để Việt Nam hiện thực hóa mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045 theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

1. Wiktionary; Hồ Ngọc Đức: Dự án Từ điển Tiếng Việt miễn phí.

2. Vũ Minh Khương: “Việt Nam 2045: tầm nhìn, khát vọng và sứ mệnh lịch sử”, Tạp chí Khoa học, công nghệ Việt Nam điện tử,ngày 17-01-2020.

3. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử quân sự Việt Nam, t. 2, Nxb CTQG - ST, H, 2019, tr.130.

4, 5, 6, 7, 8, 9. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb CTQG - ST, H, 2026, t. 1, tr. 25, 37, 64, 65, 65, 38.

Ban Biên tập cổng TTĐT

(TS Lê Văn Phục, Học viện Chính trị khu vực III; Nguồn: Tạp chí SHLL số 2-2026)

 




Tổng biên tập

Alternate Text

Bình luận

Danh sách bình luận

Số lượng ý kiến bài viết: 0

Năm phát hành

Xem

Thống kê lượt truy cập

Lượt truy cập:

Khách online: