Sign In

Từ kiện toàn các chức danh chủ chốt của Nhà nước đến củng cố niềm tin của Nhân dân: Nhìn từ Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI

15:20 09/04/2026

Chọn cỡ chữ A a    

(HCMA 3) - Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã hoàn thành việc kiện toàn các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Nhà nước theo đúng quy định của Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm tính liên tục, ổn định và hiệu quả của bộ máy nhà nước. Bài viết phân tích ý nghĩa chính trị, pháp lý của sự kiện này; làm rõ vai trò lãnh đạo của Đảng trong công tác cán bộ và mối quan hệ giữa kiện toàn bộ máy lãnh đạo với việc củng cố niềm tin của Nhân dân.

 

Các đại biểu tham dự Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, 

nguồn: baochinhphu.vn

Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI diễn ra trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu ngày càng cao về hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia. Đây là “kỳ họp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, không chỉ mở đầu cho nhiệm kỳ mới mà còn đặt nền móng cho một giai đoạn phát triển mới của đất nước”(1). Việc Quốc hội tiến hành bầu và phê chuẩn các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Nhà nước không chỉ là yêu cầu mang tính hiến định mà còn có ý nghĩa chiến lược trong việc bảo đảm sự vận hành thông suốt của bộ máy nhà nước. Theo Hiến pháp năm 2013 (bổ sung ngày 16/6/2025), “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”(2) có thẩm quyền bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm các chức danh quan trọng của Nhà nước. Do đó, việc kiện toàn các chức danh lãnh đạo tại Kỳ họp thứ Nhất là bước đi cần thiết nhằm bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và chính danh của bộ máy nhà nước. Trong điều kiện hiện nay, khi yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đặt ra cấp thiết, việc kiện toàn đội ngũ lãnh đạo chủ chốt càng gắn chặt với nhiệm vụ củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.

1. Ý nghĩa của việc kiện toàn các chức danh chủ chốt của Nhà nước

Một là, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và ổn định của bộ máy nhà nước

Việc Quốc hội khóa XVI bầu và phê chuẩn các chức danh chủ chốt của Nhà nước là sự cụ thể hóa quy định của Hiến pháp, thể hiện nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Quá trình kiện toàn nhân sự được tiến hành theo đúng trình tự, thủ tục, bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ, công khai, minh bạch, có sự chuẩn bị kỹ lưỡng từ trước. Điều này góp phần củng cố tính chính danh và tính hợp pháp của bộ máy lãnh đạo, tạo cơ sở vững chắc để các thiết chế nhà nước vận hành hiệu lực, hiệu quả ngay từ đầu nhiệm kỳ. Đồng thời, việc tuân thủ nghiêm các quy định về công tác cán bộ còn thể hiện sự tôn trọng pháp luật, nâng cao kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động của hệ thống chính trị. Phát biểu khai mạc kỳ họp, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn cho biết: “Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 đã thành công tốt đẹp. Đây là kết quả của quá trình chuẩn bị công phu, kỹ lưỡng, tổ chức bài bản, chuyên nghiệp và sự ủng hộ, đồng thuận rất cao của cử tri và nhân dân cả nước. Cùng với thành công rất tốt đẹp của Đại hội lần thứ XIV của Đảng và Hội nghị lần thứ 2, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XVI, kết quả cuộc bầu cử tiếp tục khẳng định niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước; đồng thời góp phần nâng cao hình ảnh, uy tín của đất nước Việt Nam trên trường quốc tế”(3). Không chỉ dừng lại ở khía cạnh pháp lý, việc kiện toàn các chức danh chủ chốt còn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc bảo đảm tính ổn định của bộ máy nhà nước. Sự chuyển tiếp giữa các nhiệm kỳ nếu không được thực hiện đồng bộ, kịp thời sẽ dễ dẫn đến khoảng trống quyền lực hoặc gián đoạn trong chỉ đạo, điều hành. Vì vậy, việc kiện toàn nhân sự ngay tại kỳ họp đầu tiên của Quốc hội có ý nghĩa quyết định trong việc duy trì sự liên tục, thông suốt của hoạt động quản lý nhà nước, bảo đảm các chính sách, chương trình phát triển được triển khai ổn định, nhất quán. Mặt khác, trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực có nhiều biến động phức tạp, yêu cầu giữ vững ổn định chính trị - xã hội càng trở nên cấp thiết. Một bộ máy lãnh đạo được kiện toàn đầy đủ, vận hành hiệu quả sẽ là nhân tố quan trọng góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân, tạo môi trường thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững quốc phòng, an ninh và nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế. Đây là minh chứng cho sự vận hành đúng đắn của cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”(4), qua đó góp phần củng cố nền tảng chính trị vững chắc cho sự phát triển bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.

Hai là, khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng trong công tác cán bộ

Công tác cán bộ là khâu “then chốt” của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị”(5). Việc kiện toàn các chức danh chủ chốt của Nhà nước là kết quả của quá trình chuẩn bị nhân sự công phu, khoa học dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng. Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh: “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp thực sự tiêu biểu về bản lĩnh chính trị, phẩm chất, đạo đức, năng lực nổi trội, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, là hạt nhân đoàn kết”(6). Điều này được thể hiện cụ thể trong việc lựa chọn và giới thiệu nhân sự để Quốc hội bầu giữ các chức vụ lãnh đạo chủ chốt. Qua đó, tiếp tục khẳng định vai trò “là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”(7) của Đảng. Trên thực tế, việc Quốc hội bầu các chức danh chủ chốt của Nhà nước là bước hoàn thiện về mặt pháp lý đối với quá trình chuẩn bị nhân sự đã được tiến hành chặt chẽ, khoa học dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đảng lãnh đạo công tác cán bộ thông qua việc xác định tiêu chuẩn, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và giới thiệu nhân sự; đồng thời kiểm soát chặt chẽ các khâu trong quy trình công tác cán bộ nhằm bảo đảm lựa chọn được những người thực sự tiêu biểu về phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực và uy tín. Một điểm đáng chú ý là công tác cán bộ trong giai đoạn hiện nay ngày càng được hoàn thiện theo hướng công khai, minh bạch, dân chủ và chặt chẽ hơn. Việc tuân thủ nghiêm các quy trình, quy định không chỉ góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ mà còn củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng. Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh yêu cầu về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và kiểm soát quyền lực ngày càng được đặt ra cao hơn.

Ba là, tạo nền tảng cho việc thực hiện các mục tiêu phát triển đất nước

Việc kiện toàn các chức danh chủ chốt của Nhà nước tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI không chỉ mang ý nghĩa tổ chức bộ máy mà còn trực tiếp tạo nền tảng quan trọng cho việc triển khai và hiện thực hóa các mục tiêu phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Trong điều kiện yêu cầu phát triển nhanh và bền vững ngày càng cao, vai trò của đội ngũ lãnh đạo cấp cao càng trở nên đặc biệt quan trọng, quyết định đến chất lượng hoạch định chính sách và hiệu quả tổ chức thực hiện. Trước hết, một bộ máy lãnh đạo được kiện toàn đầy đủ, đồng bộ và đúng thời điểm sẽ bảo đảm sự thống nhất trong lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành. Sự thống nhất này là điều kiện tiên quyết để chuyển hóa các chủ trương, đường lối của Đảng thành chính sách cụ thể của Nhà nước và tổ chức triển khai hiệu quả trong thực tiễn. Khi không có sự đồng bộ trong tổ chức bộ máy hoặc thiếu sự ổn định về nhân sự, quá trình điều hành dễ bị gián đoạn, ảnh hưởng đến tiến độ và chất lượng thực hiện các mục tiêu phát triển. Thứ hai, việc lựa chọn và bố trí đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín sẽ tạo ra “động lực nội sinh” cho phát triển. Đội ngũ này không chỉ giữ vai trò định hướng chiến lược mà còn trực tiếp tổ chức, điều hành và kiểm tra việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Năng lực và bản lĩnh của cán bộ lãnh đạo sẽ quyết định mức độ hiệu quả của các chính sách cũng như khả năng thích ứng với những biến động phức tạp của tình hình trong nước và quốc tế. Thứ ba, việc kiện toàn các chức danh chủ chốt góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia. Trong bối cảnh chuyển đổi sang mô hình quản trị hiện đại, số hóa thì yêu cầu về tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và khả năng điều hành linh hoạt ngày càng được đề cao. Một bộ máy lãnh đạo hoạt động hiệu quả sẽ tạo điều kiện để cải cách hành chính, hoàn thiện thể chế và nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ công, qua đó thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Bên cạnh đó, việc kiện toàn nhân sự lãnh đạo còn có ý nghĩa trong việc tạo dựng niềm tin và kỳ vọng phát triển trong xã hội. Khi bộ máy lãnh đạo được tổ chức hợp lý, vận hành hiệu quả, Nhân dân sẽ tin tưởng hơn vào khả năng thực hiện các mục tiêu phát triển của đất nước, từ đó tích cực tham gia và đóng góp vào quá trình phát triển. Đây là điều kiện bảo đảm để các chiến lược, kế hoạch phát triển được triển khai đồng bộ, hiệu quả, góp phần hiện thực hóa mục tiêu xây dựng đất nước phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới.

2. Từ kiện toàn các chức danh chủ chốt của Nhà nước đến củng cố niềm tin của Nhân dân

Thứ nhất, niềm tin của Nhân dân - nền tảng của ổn định và phát triển

Niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước là yếu tố có ý nghĩa quyết định đối với sự ổn định chính trị - xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng tâm đắc với câu nói dân gian: “Dễ mười lần không dân cũng chịu/ Khó trăm lần dân liệu cũng xong”(8). Không chỉ nhận thức rõ vai trò, sức mạnh của quần chúng nhân dân mà Chủ tịch Hồ Chí Minh còn chỉ rõ, sức mạnh của nhân dân chỉ được phát huy đầy đủ khi có một đảng cách mạng lãnh đạo. Người khẳng định: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân. Trong xã hội không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân”(9)Việc kiện toàn các chức danh lãnh đạo chủ chốt theo đúng quy định, công khai, minh bạch là minh chứng cho tính dân chủ và pháp quyền, góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân. Trước hết, niềm tin của Nhân dân là cơ sở bảo đảm cho sự ổn định chính trị - xã hội. Một khi Nhân dân tin tưởng vào đường lối lãnh đạo của Đảng, vào hiệu lực quản lý của Nhà nước và vào tính đúng đắn của các chủ trương, chính sách thì sẽ tạo ra sự đồng thuận xã hội rộng rãi. Sự đồng thuận đó chính là điều kiện tiên quyết để duy trì ổn định, hạn chế những xung đột, mâu thuẫn và các yếu tố gây mất ổn định từ bên trong. Thứ hai, niềm tin của Nhân dân là động lực quan trọng thúc đẩy phát triển. Khi Nhân dân tin tưởng, họ sẽ tích cực tham gia vào các phong trào thi đua yêu nước, chấp hành tốt chủ trương, chính sách, pháp luật và chủ động đóng góp trí tuệ, nguồn lực cho sự phát triển của đất nước. Niềm tin vì thế không chỉ tạo ra sự ổn định mà còn khơi dậy khát vọng phát triển, phát huy tinh thần tự lực, tự cường và sáng tạo trong toàn xã hội. Thứ ba, niềm tin của Nhân dân là thước đo đối với hiệu quả lãnh đạo và quản lý. Niềm tin không hình thành một cách tự nhiên mà được xây dựng trên cơ sở thực tiễn, thông qua kết quả cụ thể của quá trình phát triển kinh tế - xã hội, chất lượng hoạt động của bộ máy nhà nước và phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ. Do đó, việc củng cố niềm tin đòi hỏi phải gắn chặt giữa “nói” và “làm”, giữa cam kết chính trị với kết quả thực tiễn.

Trong mối quan hệ với việc kiện toàn bộ máy lãnh đạo, niềm tin của Nhân dân được củng cố khi quá trình lựa chọn, bố trí cán bộ được thực hiện một cách công khai, minh bạch, đúng quy định, bảo đảm lựa chọn được những người xứng đáng. Khi Nhân dân nhận thấy bộ máy lãnh đạo được tổ chức hợp lý, vận hành hiệu quả và phục vụ lợi ích chung, niềm tin sẽ được củng cố một cách vững chắc, bởi lẽ “trọng tâm hàng đầu là quán triệt sâu sắc, thực hành triệt để quan điểm “Dân là gốc”, phát huy mạnh mẽ vai trò chủ thể của Nhân dân, huy động sức mạnh của Nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Mục tiêu cao nhất, đích đến cuối cùng là Nhân dân được thụ hưởng thành quả của phát triển”(10).

Thứ hai, vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ lãnh đạo 

Văn kiện Đại hội XIV yêu cầu: “Nêu gương phải thực sự trở thành một nội dung quan trọng trong phương thức lãnh đạo của Đảng”(11). Đây là yếu tố có ý nghĩa quyết định trong việc củng cố niềm tin của Nhân dân. Thực tiễn cho thấy, ở đâu cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu gương mẫu, ở đó niềm tin của Nhân dân được củng cố; ngược lại, nếu cán bộ thiếu gương mẫu, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống thì sẽ làm suy giảm niềm tin, ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín của Đảng và Nhà nước.

Trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc ban hành chủ trương, chính sách là cần thiết nhưng để các chủ trương đó đi vào cuộc sống thì vai trò nêu gương của cán bộ lãnh đạo có ý nghĩa quyết định. Khi cán bộ lãnh đạo thực sự “nói đi đôi với làm” sẽ tạo ra hiệu ứng lan tỏa tích cực, góp phần hình thành chuẩn mực hành vi trong toàn hệ thống chính trị và xã hội. Mặt khác, nêu gương là tiêu chí quan trọng để đánh giá phẩm chất và năng lực của cán bộ. Trong bối cảnh hiện nay, yêu cầu đối với cán bộ lãnh đạo không chỉ dừng lại ở năng lực chuyên môn mà còn đòi hỏi cao về đạo đức, trách nhiệm và tinh thần phục vụ Nhân dân. Việc nêu gương trong thực thi công vụ, trong lối sống, trong trách nhiệm với công việc và với Nhân dân chính là thước đo cụ thể, trực tiếp phản ánh chất lượng đội ngũ cán bộ. Khi đội ngũ lãnh đạo thể hiện sự liêm chính, tận tụy, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung sẽ tạo dựng được hình ảnh tích cực, qua đó củng cố niềm tin và sự ủng hộ của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.

Trong mối liên hệ với việc kiện toàn các chức danh chủ chốt của Nhà nước, vai trò nêu gương càng trở nên quan trọng. Những cán bộ được Quốc hội tín nhiệm bầu giữ các vị trí lãnh đạo cao nhất không chỉ là người tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách mà còn là hình mẫu về phẩm chất, đạo đức và phong cách lãnh đạo. Việc họ thực hiện tốt vai trò nêu gương sẽ góp phần tạo dựng niềm tin xã hội ngay từ đầu nhiệm kỳ, tạo động lực cho toàn hệ thống chính trị vận hành hiệu quả. Việc phát huy vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, nhất là trong bối cảnh kiện toàn bộ máy nhà nước sẽ góp phần xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Thứ ba, gắn kết giữa “nói” và “làm” trong củng cố niềm tin

Yêu cầu gắn kết chặt chẽ giữa “nói” và “làm” giữ vị trí đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa như một nguyên tắc căn bản trong lãnh đạo, quản lý và tổ chức thực hiện. Niềm tin không được tạo dựng chỉ bằng lời nói hay những cam kết chính trị mà phải được khẳng định bằng hành động cụ thể và kết quả thực tiễn. Do đó, sự thống nhất giữa lời nói và việc làm chính là thước đo trực tiếp đối với uy tín của Đảng, Nhà nước và đội ngũ cán bộ, đảng viên. Khi các chủ trương, chính sách được ban hành phù hợp nhưng không được tổ chức thực hiện hiệu quả hoặc thực hiện không nhất quán sẽ làm suy giảm niềm tin của Nhân dân. Ngược lại, khi lời nói được cụ thể hóa bằng hành động thiết thực, mang lại kết quả rõ ràng trong đời sống kinh tế - xã hội sẽ tạo ra sự đồng thuận và củng cố niềm tin một cách bền vững. Bên cạnh đó, việc gắn kết giữa “nói” và “làm” có vai trò trực tiếp trong việc củng cố niềm tin của Nhân dân. Nhân dân đánh giá Đảng và Nhà nước không chỉ qua định hướng chính sách mà quan trọng hơn là qua kết quả cụ thể trong giải quyết các vấn đề như việc làm, thu nhập, an sinh xã hội, cải cách hành chính và phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Khi những vấn đề này được giải quyết hiệu quả, niềm tin sẽ được củng cố nhằm “Xây dựng bộ máy tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả. Trên tinh thần Chính phủ kiến tạo và hành động, mỗi thành viên Chính phủ phải “nói đi đôi với làm”, điều hành bằng tư duy quản trị hiện đại, chủ động, linh hoạt trong mọi tình huống để hoàn thành xuất sắc trọng trách trước Đảng và nhân dân(12).

Với việc kiện toàn các chức danh chủ chốt của Nhà nước, yêu cầu “nói đi đôi với làm” càng đặt ra cấp thiết. Đội ngũ lãnh đạo mới được kiện toàn không chỉ cần đưa ra các định hướng đúng đắn mà còn phải tổ chức thực hiện quyết liệt, hiệu quả, tạo ra những chuyển biến rõ nét ngay từ đầu nhiệm kỳ. Chính những kết quả cụ thể đó sẽ là minh chứng thuyết phục nhất, góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. 

Như vậy, việc kiện toàn các chức danh chủ chốt của Nhà nước tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI có ý nghĩa chính trị, pháp lý sâu sắc; góp phần bảo đảm sự ổn định và hiệu quả của bộ máy nhà nước đồng thời củng cố niềm tin của Nhân dân. Thực tiễn cho thấy, khi bộ máy lãnh đạo được kiện toàn đồng bộ, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; khi đội ngũ cán bộ thực sự gương mẫu, liêm chính, tận tụy và hành động quyết liệt vì lợi ích chung; khi các cam kết chính trị được hiện thực hóa bằng kết quả cụ thể trong đời sống kinh tế - xã hội thì niềm tin của Nhân dân sẽ được củng cố, lan tỏa và trở thành nguồn lực to lớn cho phát triển. Những lời tuyên thệ tại nghị trường trong Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã được cất lên với tinh thần trang nghiêm, xúc động và trách nhiệm cao trước Nhân dân và đất nước. Đó không chỉ là nghi thức mang tính hiến định mà còn là cam kết chính trị sâu sắc của đội ngũ lãnh đạo đối với Tổ quốc và Nhân dân. Một nhiệm kỳ mới chính thức bắt đầu gắn với niềm tin, sự kỳ vọng và gửi gắm của Nhân dân đối với những người được giao trọng trách. Từ thời điểm ấy, một chặng đường mới được mở ra - chặng đường của tinh thần hành động quyết liệt, của sự tận tâm cống hiến và của những kết quả cụ thể, thiết thực phục vụ sự phát triển của đất nước. Chính trong quá trình hiện thực hóa những cam kết đã được khẳng định, giá trị của niềm tin sẽ tiếp tục được củng cố và lan tỏa, trở thành động lực quan trọng khơi dậy trách nhiệm và khát vọng phát triển “vì một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”(13)./.

Chú thích và tài liệu tham khảo:

(1), (3): Khai mạc trọng thể Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, Cổng Thông tin điện tử Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,

https://quochoi.vn/tintuc/Pages/tin-hoat-dong-cua-quoc-hoi.aspx?ItemID=99138

(2), (7): Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Sửa đổi, bổ sung ngày 16/6/2025), tr. 15-16; tr. 2

(4), (6), (11): Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 396; tr. 408-409, tr. 418

(5): Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 19-5-2018, của Hội nghị Trung ương 7 khóa XII, “Về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”

(8), (9): Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 15, tr. 280; t. 10, tr. 453

(10) Phát biểu nhậm chức của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, báo Điện tử Chính phủ https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-phat-bieu-nham-chuc-cua-tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-to-lam-119260407100601921.htm

(12): Phát biểu nhậm chức của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng, báo Điện tử Chính phủ https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-phat-bieu-nham-chuc-cua-thu-tuong-chinh-phu-le-minh-hung-119260407164554959.htm

(13): Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 2, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 390

Ban Biên tập cổng TTĐT

(ThS Nguyễn Thị Ngọc Cảnh

Khoa Xây dựng Đảng, Học viện Chính trị khu vực III)

Tổng biên tập

Alternate Text

Bình luận

Danh sách bình luận

Số lượng ý kiến bài viết: 0

Năm phát hành

Xem

Thống kê lượt truy cập

Lượt truy cập:

Khách online: