Bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 là sự kiện chính trị có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với đất nước. Đây không chỉ là hoạt động hiến định nhằm hình thành các cơ quan quyền lực nhà nước trong nhiệm kỳ mới mà còn là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân; thể hiện rõ bản chất dân chủ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Thông qua bầu cử, Nhân dân cả nước trực tiếp thực hiện quyền làm chủ của mình bằng việc lựa chọn những người thật sự tiêu biểu về phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực, trí tuệ và uy tín để đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền lợi chính đáng của Nhân dân tham gia vào các cơ quan quyền lực nhà nước ở Trung ương và địa phương. Qua đó, góp phần củng cố và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, bảo đảm nguyên tắc “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân”[1].
Diễn ra trong bối cảnh toàn Đảng, toàn quân và toàn dân đang tích cực triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; cuộc bầu cử lần này mang ý nghĩa chính trị đặc biệt quan trọng, là bước cụ thể hóa các chủ trương, đường lối của Đảng về công tác cán bộ và xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính trị trong giai đoạn mới.
Trước hết, bầu cử là cơ chế để Nhân dân trực tiếp tham gia vào việc hình thành các cơ quan quyền lực nhà nước. Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước; quyền lực đó được thực hiện chủ yếu thông qua các cơ quan đại diện do Nhân dân bầu ra. Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp là những cơ quan quyền lực nhà nước được hình thành thông qua chế độ bầu cử “theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín”[2]. Thông qua lá phiếu của mình, cử tri thực hiện quyền lựa chọn những người có đủ phẩm chất chính trị, năng lực và uy tín để đại diện cho ý chí và nguyện vọng của Nhân dân tham gia quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương. Ở phương diện lý luận, bầu cử là hình thức cơ bản của dân chủ đại diện, qua đó Nhân dân thực hiện việc ủy quyền cho các đại biểu thay mặt mình tham gia vào quá trình thực thi quyền lực nhà nước. Cơ chế này bảo đảm rằng việc hình thành và vận hành các cơ quan quyền lực nhà nước luôn gắn với sự lựa chọn và sự ủy quyền của Nhân dân. Nhờ đó, quyền làm chủ của Nhân dân không chỉ được khẳng định về mặt hiến định mà còn được hiện thực hóa trong thực tiễn đời sống chính trị của đất nước.
Thực tiễn các cuộc bầu cử ở Việt Nam cho thấy sự tham gia rộng rãi và trách nhiệm chính trị cao của cử tri. Trong cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026, tỷ lệ cử tri tham gia bỏ phiếu đạt 99,57%, thể hiện tinh thần làm chủ và ý thức chính trị sâu sắc của Nhân dân đối với việc lựa chọn những người đại diện của mình. Kết quả này không chỉ phản ánh sự đồng thuận xã hội rộng rãi mà còn khẳng định vai trò của bầu cử như một hình thức thực hành dân chủ trực tiếp của Nhân dân trong đời sống chính trị quốc gia.
Thứ hai, bầu cử không chỉ là cơ chế để Nhân dân thực hiện quyền làm chủ mà còn góp phần quan trọng củng cố và tăng cường niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước; qua đó tiếp tục thúc đẩy quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo hướng trong sạch, vững mạnh, hoạt động ngày càng hiệu lực, hiệu quả. Thông qua bầu cử, Nhân dân không chỉ lựa chọn người đại diện mà còn thiết lập mối quan hệ trách nhiệm chính trị giữa cử tri với đại biểu. Các đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân sau khi được bầu ra phải thực hiện đầy đủ trách nhiệm đại diện, thường xuyên giữ mối liên hệ chặt chẽ với cử tri, lắng nghe và phản ánh trung thực những ý kiến, kiến nghị của Nhân dân vào quá trình hoạch định chính sách và ban hành các quyết định của cơ quan quyền lực nhà nước. Mối quan hệ này tạo nên cơ chế tương tác hai chiều giữa Nhân dân với bộ máy nhà nước. Một mặt, Nhân dân thông qua các đại biểu của mình tham gia vào việc quyết định những vấn đề quan trọng của quốc gia và địa phương; mặt khác, các đại biểu chịu sự giám sát của cử tri và có trách nhiệm giải trình trước Nhân dân về hoạt động của mình. Thực tiễn cho thấy, thông qua các hoạt động tiếp xúc cử tri trước và sau kỳ họp của Quốc hội và Hội đồng nhân dân, các đại biểu có điều kiện nắm bắt đầy đủ hơn tâm tư, nguyện vọng của Nhân dân, từ đó chuyển tải những ý kiến này vào quá trình thảo luận và quyết định chính sách. Cơ chế này góp phần bảo đảm rằng các quyết sách của cơ quan quyền lực nhà nước luôn gắn với lợi ích và nguyện vọng chính đáng của Nhân dân.
Thứ ba, thông qua bầu cử, tính chính danh của quyền lực nhà nước được xác lập trên cơ sở sự lựa chọn và ủy quyền của Nhân dân. Ở Việt Nam, nguyên tắc “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân” được khẳng định trong Hiến pháp và được thể chế hóa bằng chế độ bầu cử định kỳ đối với Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Việc tổ chức bầu cử không chỉ nhằm lựa chọn đại biểu mới mà còn là quá trình tái khẳng định sự ủy quyền của Nhân dân đối với bộ máy nhà nước. Qua đó, Nhân dân có điều kiện đánh giá hoạt động của các đại biểu trong nhiệm kỳ trước đồng thời lựa chọn những cá nhân thật sự tiêu biểu, có khả năng đại diện cho lợi ích của Nhân dân trong nhiệm kỳ mới. Điều này góp phần nâng cao tính trách nhiệm và tính minh bạch trong hoạt động của các cơ quan quyền lực nhà nước.
Thứ tư, bầu cử góp phần phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy sự tham gia chính trị của Nhân dân. Theo báo cáo của các địa phương, cả nước có hơn 73,4 triệu cử tri, được bố trí bỏ phiếu tại hơn 72.000 khu vực bỏ phiếu[3]. Trong quá trình chuẩn bị và tổ chức bầu cử, cử tri được tiếp cận thông tin về chương trình hành động của các ứng cử viên, được trao đổi và thảo luận về những vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương. Điều này góp phần nâng cao nhận thức chính trị, ý thức công dân và trách nhiệm xã hội của mỗi người dân. Đồng thời, bầu cử cũng tạo điều kiện để những cá nhân tiêu biểu trong các tầng lớp nhân dân tham gia vào các cơ quan quyền lực nhà nước. Vì thế, cơ cấu đại biểu trong Quốc hội và Hội đồng nhân dân ngày càng bảo đảm tính đại diện rộng rãi của các giai tầng xã hội, các dân tộc, tôn giáo, giới tính và lĩnh vực hoạt động khác nhau. Đây là yếu tố quan trọng giúp các cơ quan dân cử phản ánh đầy đủ hơn lợi ích và nguyện vọng của Nhân dân, qua đó nâng cao hiệu quả và chất lượng của hoạt động lập pháp, giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Thông qua cơ chế bầu cử, Nhân dân không chỉ trực tiếp tham gia vào việc hình thành các cơ quan quyền lực nhà nước mà còn thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của các cơ quan và đại biểu do mình bầu ra. Điều đó góp phần bảo đảm cho quyền lực nhà nước thực sự thuộc về Nhân dân đồng thời tạo nền tảng vững chắc cho việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Thứ năm, bầu cử là một trong những cơ chế quan trọng để kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong Nhà nước pháp quyền, quyền lực phải được kiểm soát chặt chẽ nhằm ngăn ngừa nguy cơ lạm quyền hoặc xa rời lợi ích của Nhân dân. Bầu cử định kỳ chính là một hình thức kiểm soát quyền lực mang tính dân chủ sâu sắc. Qua bầu cử, Nhân dân có quyền đánh giá và lựa chọn các đại biểu từ đó các đại biểu phải thực hiện tốt trách nhiệm của mình trong nhiệm kỳ. Bên cạnh đó, Hiến pháp còn quy định cơ chế “bãi nhiệm khi không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của Nhân dân”[4]. Đây là biểu hiện rõ nét của quyền làm chủ của Nhân dân trong lĩnh vực chính trị đồng thời góp phần bảo đảm rằng quyền lực nhà nước luôn được thực thi vì lợi ích của Nhân dân và chịu sự kiểm soát của Nhân dân.
Có thể thấy, bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân ở Việt Nam. Đến nay, hệ thống các tổ chức phụ trách bầu cử trên cả nước đã được thành lập đầy đủ theo đúng quy định của pháp luật. Cả nước đã thành lập 34 Ủy ban bầu cử cấp tỉnh, 3.321 Ủy ban bầu cử cấp xã, 182 Ban bầu cử đại biểu Quốc hội, 744 Ban bầu cử đại biểu HĐND cấp tỉnh, hơn 22.500 Ban bầu cử cấp xã và trên 72.000 Tổ bầu cử[5]. Mỗi công dân cần nhận thức sâu sắc rằng tham gia bầu cử không chỉ là quyền cơ bản của công dân đã được Hiến pháp và pháp luật quy định mà còn là trách nhiệm và nghĩa vụ của mỗi người. Với tư cách là chủ thể của quyền lực nhà nước, mỗi cử tri cần phát huy tinh thần trách nhiệm, chủ động tìm hiểu thông tin về các ứng cử viên, xem xét một cách toàn diện về phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực, trình độ và uy tín để lựa chọn những người thật sự tiêu biểu, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền lợi chính đáng của Nhân dân tham gia Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Mặt khác, mỗi công dân cần nghiêm chỉnh chấp hành các quy định của pháp luật về bầu cử, tích cực tham gia bỏ phiếu đầy đủ, đúng quy định và thể hiện chính kiến của mình thông qua lá phiếu. Việc thực hiện nghiêm túc quyền và nghĩa vụ bầu cử không chỉ góp phần bảo đảm cho cuộc bầu cử diễn ra dân chủ, đúng pháp luật và thành công tốt đẹp mà còn thể hiện ý thức trách nhiệm chính trị, tinh thần công dân và sự gắn bó của mỗi người dân đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ mới./.
Ban Biên tập cổng TTĐT
(ThS Nguyễn Thị Ngọc Cảnh
Khoa Xây dựng Đảng, Học viện Chính trị khu vực III)
[1] Điều 2, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), tr.2
[2] Điều 7, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), tr.3
[4] Điều 7, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), tr.3