Sign In

Bối cảnh lịch sử và ý nghĩa của Ngày giải phóng Thủ đô 10/10/1954

05:57 09/10/2024

Chọn cỡ chữ A a    

(HCMA3) - Trong suốt chặng đường hành quân lịch sử từ ngày Toàn quốc kháng chiến (19-12-1946) đến ngày trở về giải phóng Thủ đô (10-10-1954), vượt qua biết bao gian khổ, hy sinh, quân và dân Hà Nội đã lập nên mốc son chói lọi làm nức lòng quân và dân cả nước. Tròn 70 năm đã trôi qua, nhưng ngày Ngày giải phóng Thủ đô 10-10-1954 vẫn mãi mãi để lại một dấu ấn xúc động và đầy tự hào không chỉ đối với người Hà Nội mà còn là niềm vui bất tận của người dân Việt Nam vì nó có ý nghĩa lịch sử trọng đại.

       1. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nhân dân cả nước nói chung và Thủ đô Hà Nội nói riêng không có ước nguyện nào hơn là được sống trong hòa bình để xây dựng, phát triển. Thế nhưng, dựa vào thế lực của quân đội Anh và Nhật, ngày 23-9-1945, thực dân Pháp trắng trợn gây hấn ở Sài Gòn với mưu toan đánh chiếm và bình định Nam Bộ trong một thời gian ngắn và dùng Nam Bộ làm bàn đạp đánh chiếm cả Việt Nam và Đông Dương thêm một lần nữa.

      Hưởng ứng Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến ngày 19-12-1946 của Chủ tịch Hồ Chí Minh với tinh thần “Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, quân và dân Hà Nội với tinh thần “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”, đã cùng với nhân dân cả nước nhất tề đứng lên đánh giặc cứu nước.

      Với cuộc chiến đấu 60 ngày đêm vô cùng oanh liệt, Hà Nội đã mở đầu cuộc kháng chiến toàn quốc, kìm chân và tiêu hao sinh lực địch, tạo điều kiện để cơ quan đầu não và các lực lượng kháng chiến của ta tạm rút khỏi Hà Nội an toàn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ do Trung ương giao. Sau 9 năm trường kỳ kháng chiến ngoan cường, thông minh, gan dạ, đầy sáng tạo của quân và dân ta, đặc biệt là sau thất bại trong trận quyết chiến chiến lược tại Điện Biên Phủ năm 1954, thực dân Pháp buộc phải ký Hiệp định Giơnevơ (21-7-1954), công nhận độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia; chấp nhận rút quân khỏi miền Bắc Việt Nam.

Đoàn quân giải phóng trên đường Đinh Tiên Hoàng (Hà Nội), ngày 10/10/1954

       Theo Hiệp định Giơnevơ, Hà Nội nằm trong khu vực tập kết 80 ngày của quân đội Pháp. Tuy nhiên, thực dân Pháp lợi dụng thời gian này để phá hoại các cơ sở kinh tế, văn hóa, lôi kéo và cưỡng ép người di cư vào Nam, gây rối loạn và làm cho mọi công việc bị đình trệ. Biết trước âm mưu của Pháp, ý thức rõ quy mô và tầm quan trọng của việc tiếp quản Hà Nội, Bộ Chính trị và Ban Bí thư Trung ương Đảng đã cử các đồng chí: Võ Nguyên Giáp, Lê Văn Lương, Xuân Thủy, Tố Hữu trực tiếp lãnh đạo và chỉ đạo công tác tiếp quản Thủ đô.

Ngày 17-9-1954, theo quyết nghị của Chính phủ, Ủy ban Quân chính thành phố Hà Nội được thành lập để làm nhiệm vụ tiếp quản thành phố. Hội đồng Chính phủ đã công bố các chính sách đối với thành thị mới giải phóng, chính sách đối với tôn giáo, các điều kỷ luật của bộ đội, cán bộ và nhân viên công tác khi thành phố mới giải phóng; Bộ Tổng Tư lệnh đã ra lệnh cho các đơn vị bộ đội đang tiến về giải phóng Hà Nội phải giữ vững trật tự an ninh của thành phố, bảo vệ nhân dân, bảo vệ ngoại kiều, triệt để chấp hành các chính sách và kỷ luật mà Chính phủ đã đề ra, luôn nâng cao cảnh giác, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu khiêu khích, phá hoại. 

         Cùng với đó, ta kiên trì đấu tranh trên mặt trận ngoại giao yêu cầu thực dân Pháp rút khỏi Hà Nội đúng thời hạn, bảo đảm nguyên tắc chuyển giao trong trật tự, an toàn, không được phá hoại và không làm gián đoạn các hoạt động của đời sống nhân dân. Chính phủ ta đã phái các đội công an, trật tự, cảnh vệ, hành chính vào Hà Nội để chuẩn bị việc tiếp quản thành phố. Theo các văn bản đã được ký kết, từ ngày 2 đến ngày 5-10-1954, các đội hành chính, trật tự của ta vào thành phố trước, chuẩn bị cho việc tiếp quản các cơ quan, công sở, các công trình công cộng.  

         Theo kế hoạch đã định, sáng 8/10/1954, các đơn vị quân đội của ta tham gia tiếp quản Thủ đô, theo nhiều đường tiến về Hà Nội. Sáng 9-10-1954, ta tiếp quản 4 quận Quảng Bá, Cầu Giấy, Ngã Tư Sở và Quỳnh Lôi. Quân đội ta theo nhiều đường, từ ngoại thành tiến vào tiếp quản Hà Nội, chia làm nhiều cánh quân tiến vào năm cửa ô chính rồi tỏa ra các khu. Lần lượt, bộ đội ta tiếp quản nhà ga Hà Nội, phủ Toàn quyền cũ, khu Đồn Thủy, khu Bờ Hồ, Bắc Bộ phủ. 16 giờ, quân đội Pháp rời khỏi thành phố Hà Nội, lặng lẽ rút sang phía Bắc cầu Long Biên. 16h30, quân đội ta hoàn toàn kiểm soát Hà Nội, tiếp quản thành phố an toàn và trật tự.

        Sáng ngày 10-10-1954, Ủy ban Quân chính Thành phố và các đơn vị quân đội gồm có bộ binh, pháo binh, cao xạ, cơ giới… chia làm nhiều cánh lớn đã mở cuộc hành quân lịch sử tiến vào Hà Nội. Đúng 8 giờ sáng, cánh quân phía Tây gồm những chiến sỹ bộ binh của Trung đoàn Thủ đô, mang trên ngực huy hiệu “Chiến sỹ Điện Biên Phủ”, xuất phát từ khu Quần Ngựa đi qua các phố: Kim Mã, Nguyễn Thái Học, Hàng Đẫy, Cửa Nam, Hàng Bông, Hàng Đào, Hàng Ngang…, đến 9 giờ 45 phút tiến vào Cửa Đông. Khoảng 8 giờ 45 phút, cánh quân phía Nam thuộc hai Trung đoàn 88 và 36 xuất phát từ Việt Nam Học xã (nay thuộc Đại học Bách khoa) đi qua Bạch Mai, phố Huế, vòng quanh Hồ Gươm, đóng ở khu vực Đồn Thủy (nay là Bệnh viên Quân y 108) và khu Đấu Xảo (nay là Cung Văn hóa Hữu nghị). Riêng Đoàn Chỉ huy tiếp quản, gồm cơ giới, pháo binh, do Chủ tịch Ủy ban Quân chính Vương Thừa Vũ và Phó Chủ tịch Trần Duy Hưng dẫn đầu, lúc 9 giờ 30 phút từ sân bay Bạch Mai đến Ngã Tư Vọng sang Ngã tư Trung Hiền rồi theo đường Bạch mai lên phố Huế, Hàng Bài, Đồng Xuân, vào cửa Bắc.

       Vào lúc 15 giờ, sau một hồi còi dài tại Nhà Hát Lớn, hàng trăm nghìn người dân Hà Nội và các lực lượng vũ trang đã chỉnh tề tham dự lễ chào cờ do Ủy ban Quân chính tổ chức tại Sân vận động Cột Cờ. Sau lễ chào cờ, Chủ tịch Ủy ban Quân chính Vương Thừa Vũ trân trọng độc Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi đồng bào Thủ đô nhân Ngày Giải phóng. Trong Lời kêu gọi, Bác viết: “Tám năm qua, Chính phủ phải xa rời Thủ đô để kháng chiến cứu nước. Tuy xa nhau, nhưng lòng Chính phủ luôn luôn gần cạnh đồng bào. Ngày nay do nhân dân ta đoàn kết nhất trí, quân đội ta chiến đấu anh dũng, hòa bình đã thắng lợi, Chính phủ lại trở về Thủ đô với đồng bào. Muôn dặm một nhà, lòng vui mừng khôn xiết kể!” và căn dặn: “Chính phủ có quyết tâm, toàn thể đồng bào Hà Nội đồng tâm nhất trí góp sức với Chính phủ, thì chúng ta nhất định vượt được mọi khó khăn và đạt được mục đích chung: Làm cho Hà Nội thành một Thủ đô yên ổn, tươi vui và phồn thịnh”.

         Công cuộc tiếp quản Thủ đô đã diễn ra suôn sẻ và đúng như chủ trương, kế hoạch mà Đảng, Nhà nước ta đã vạch ra. Ta đã tiếp quản an toàn và nhanh gọn toàn bộ công sở, các công trình công cộng, trong đó có các vị trí quân sự và các cơ quan đầu não quan trọng như Thành Hà Nội, Đồn Thủy, sân bay Bạch Mai, sân bay Gia Lâm, Phủ Toàn quyền, Phủ Thủ hiến Bắc Việt, Sở Mật thám liên bang. Đời sống sinh hoạt của nhân dân vẫn giữ được bình thường, ổn định. Các ngành điện, nước, giao thông, liên lạc hoạt động đều, thông suốt, an ninh chính trị, trật tự xã hội được bảo đảm tốt; trường học, bệnh viện, các cơ quan văn hóa, báo chí… tiếp tục hoạt động bình thường dưới sự quản lý của chính quyền mới.

       2. Trong suốt chặng đường hành quân lịch sử từ ngày Toàn quốc kháng chiến đến ngày trở về giải phóng Thủ đô, vượt qua biết bao gian khổ, hy sinh, quân và dân Hà Nội đã lập nên mốc son chói lọi làm nức lòng quân và dân cả nước. Tròn 70 năm đã trôi qua, nhưng ngày Ngày giải phóng Thủ đô 10-10-1954 vẫn mãi mãi để lại một dấu ấn xúc động và đầy tự hào không chỉ đối với người Hà Nội mà còn là niềm vui bất tận của người dân Việt Nam vì nó có ý nghĩa lịch sử trọng đại:

         Thứ nhất, đây là sự kiện đánh dấu bước ngoặt quan trọng, khẳng định sự toàn thắng của quân và dân ta sau 9 năm trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ (1945-1954). Nó cũng là hồi chuông đánh dấu sự kết thúc của hơn nửa thế kỷ đô hộ của thực dân Pháp tại miền Bắc Việt Nam, mở ra một thời kỳ mới cho dân tộc. Nó cũng là minh chứng sống động cho thấy sự đúng đắn, sáng tạo của đường lối “ Kháng chiến, kiến quốc” mà Đảng ta - dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra và thực hiện trong thời gian này.

          Thứ hai, với việc Thủ đô Hà Nội được giải phóng, nhân dân miền Bắc từ nay bước vào thời kỳ khôi phục, phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, từng bước đi lên chủ nghĩa xã hội - cơ sở vững chắc cho cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới. Sự kiện này cũng là mốc son trong lịch sử xây dựng, phát triển của Thủ đô và đất nước, đánh dấu một bước ngoặt có ý nghĩa to lớn, mở ra thời kỳ phát triển mới,- nhân dân lao động được làm chủ vận mệnh của mình, phấn khởi bước vào xây dựng xã hội mới - xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, nó mang lại niềm tự hào, cổ vũ tinh thần đoàn kết và quyết tâm của nhân dân cả nước trong việc tiếp tục đấu tranh cho độc lập, tự do và sự toàn vẹn lãnh thổ.

Ban Biên tập Cổng TTĐT

(Thực hiện: TS Trần Tăng Khởi) 

 

 

Tổng biên tập

Alternate Text

Bình luận

Danh sách bình luận

Số lượng ý kiến bài viết: 0

Năm phát hành

Xem

Thống kê lượt truy cập

Lượt truy cập:

Khách online: