ĐIỂM MỚI VỀ NGUYÊN TẮC TỔ CHỨC QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC CỦA ĐẠI HỘI ĐẢNG LẦN THỨ XIII

    01/05/2021 02:06 PM


    ĐIỂM MỚI VỀ NGUYÊN TẮC TỔ CHỨC QUYỀN LỰC

                  NHÀ NƯỚC CỦA ĐẠI HỘI ĐẢNG LẦN THỨ XIII

     

                                                                                                 Tuấn Vũ

                                                                Học viện chính trị khu vực III

    1. Cho đến nay, nguyên tắc “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” được xem là nguyên tắc “xương sống” trong tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước ở Việt Nam. Khởi đầu, nguyên tắc này được chính thức ghi nhận trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (khóa VII) ngày 23/1/1995 “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam, trọng tâm là cải cách một bước nền hành chính”. Đến Đại hội Đảng lần thứ VIII (6/1996), nguyên tắc này tiếp tục được khẳng định: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.” Theo đó, nội dung cốt lõi không thay đổi, chỉ có vài điểm khác trước là không còn từ “chặt chẽ” trong phối hợp và thay vì nói “ba quyền” là “các quyền”. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn là nguyên tắc này được Đại hội VIII xác định là một trong năm quan điểm chỉ đạo tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam mà cho đến nay, vẫn có giá trị về lý luận và thực tiễn. Trong các văn kiện quan trọng của Đại hội IX (4/2001), Đại hội X (4/2006) nguyên tắc trên vẫn được diễn đạt như Báo cáo chính trị tại Đại hội VIII.

    Đến Đại hội Đảng lần thứ XI (1/2011), cùng với việc bổ sung, phát triển “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” đã có một sự bổ sung quan trọng: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”. Như vậy, với yếu tố kiểm soát được bổ sung đã tạo nên một cơ chế thực thi quyền lực nhà nước hoàn chỉnh hơn, trong đó: thống nhất quyền lực là nền tảng, phân công là phương thức thực hiện quyền lực nhà nước, phối hợp nhằm đảm bảo hiệu quả của phân công và kiểm soát là để đảm bảo quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Nguyên tắc này đã được tái khẳng định tại Đại hội XII của Đảng và được quy định tại khoản 3 điều 2 Hiến pháp năm 2013. Như vậy, từ một quan điểm, nguyên tắc chính trị của Đảng cầm quyền, nguyên tắc tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước nói trên đã trở thành nguyên tắc hiến định ở Việt Nam. Đây là một thuận lợi rất quan trọng cho việc thực hiện sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước trong nhiều năm qua.

    Tại Đại hội lần thứ XIII, cùng với việc tổng kết 10 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và tổng kết 35 năm đổi mới, Đảng ta đã nhận định tổng quát về thành tựu thực thi nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước “Cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp ngày càng rõ hơn và có nhiều chuyển biến tích cực”[1]. Tuy nhiên, Đảng cũng đã chỉ ra những hạn chế, bất cập trong tổ chức thực thi nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước, trong đó, hạn chế lớn nhất là “Cơ chế kiểm soát quyền lực chưa hoàn thiện; vai trò giám sát của nhân dân chưa được phát huy mạnh mẽ”[2].

    Trên cơ sở đó, Đại hội XIII đã có những bổ sung quan trọng về nội dung của nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước ta trong tình hình mới (tầm nhìn đến 2045) như sau: “…bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽtăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước”[3].

    Vậy, đâu là cơ sở của những bổ sung và ý nghĩa của nó trong tổng thể tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam ?

    2. Cả lý luận và thực tiễn đều chứng minh: quyền lực nhà nước bắt nguồn từ quyền lực xã hội mà thực chất, quyền lực nhân dân nên nó là một thực thể duy nhất và thống nhất. Câu nói của Abraham Lincoln (Hoa Kỳ) trong Diễn văn Gettysburg (1863) về “chính quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” (government of the people, by the people, for the people) cũng là hệ quả của nguyên lý đó. Vì thế, quyền lực nhà nước là một thực thể duy nhất, không thể phân ly, chia cắt. Quyền lực nhà nhà nước ở Việt Nam, với đặc trưng của mình, càng có nhiều hơn điều kiện để thống nhất bắt nguồn từ mối quan hệ mật thiết giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức, chỉ do một Đảng lãnh đạo, các cơ quan nhà nước tuy có chức năng, nhiệm vụ khác nhau nhưng có cùng mục tiêu trên hành trình đến CNXH…

    Tuy nhiên, quyền lực nhà nước thống nhất thì không có nghĩa là không cần đến sự phân công lao động quyền lực. Bản thân nhân dân với tư cách là chủ thể của quyền lực nhà nước hay bất kỳ một cơ quan nhà nước nào cũng không có khả năng tự đảm nhiệm mọi công việc của nhà nước. Tuy chúng ta không chấp nhận mô hình phân quyền trong nhà nước pháp quyền tư sản nhưng những yếu tố hợp lý, tích cực, được thừa nhận và vận dụng phổ biến của lý thuyết phân quyền thì có thể và cần phải kế thừa. Vì thế, Hiến pháp năm 2013 quy định: Quốc hội thực hiện quyền lập pháp (điều 69), Chính phủ thực hiện quyền hành pháp (điều 94), Tòa án nhân dân thực hiện quyền tư pháp (khoản 1 điều 102), Viện Kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp (khoản 1 điều 107). Nhờ đó, một mặt, phân công là cách thức ưu trội để chống lại tình trạng độc đoán, chuyên quyền, lạm quyền và mặt khác, là điều kiện để lao động quyền lực được chuyên môn hóa, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả trong thực hiện các quyền. Tuy vậy, việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của bộ máy nhà nước là một tổng thể rất phức tạp, liên quan lẫn nhau, bị chi phối bởi yếu tố lợi ích và những ảnh hưởng nhạy cảm khác nên sự phân công thường bị rơi vào tình trạng chồng lấn, thiếu rạch ròi, bỏ trống sự phân công…Thực tế đó có ở nhiều quốc gia, chỉ là khác nhau về mức độ, phạm vi và thực tiễn ở Việt Nam trong nhiều năm qua cũng không là ngoại lệ. Đó là cơ sở để Đảng ta đặt vấn đề “phân công rành mạch” trong thực hiện quyền lực nhà nước trước tình hình, nhiệm vụ mới.

    Để thực hiện phân công được tốt hơn, tránh tình trạng “quyền anh quyền tôi”, cát cứ quyền lực, quan điểm phối hợp đòi hỏi các cơ quan nhà nước phải hỗ trợ nhau thực thi chức năng, nhiệm vụ theo mục tiêu chung của nhà nước và xã hội. Yêu cầu phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện ba quyền: lập pháp, hành pháp, tư pháp suy cho cùng, nhằm đảm bảo tính thống nhất của quyền lực nhà nước sau khi được phân công. Đây không chỉ là đòi hỏi khách quan về phương diện kỹ thuật của phân công lao động xã hội mà còn là đòi hỏi lớn lao về phương diện chính trị: quyền lực nhà nước có cội nguồn từ quyền lực nhân dân. Mặt khác, khi các cơ quan nhà nước phối hợp chặt chẽ, hiệu quả thì đó là điều kiện thuận lợi để thực hiện sự phân công giữa họ tốt hơn. Tuy nhiên, nếu phối hợp rơi vào tình trạng không trên cơ sở phân cấp, phân quyền; mạnh ai nấy làm, không tìm được tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm chính; không thể quy kết trách nhiệm cho ai…thì đó là phản phối hợp, là nghịch lực của phân công. Nhận thấy thực trạng đáng lo ngại của sự phối hợp trong thời gian qua, Đại hội XIII đã đòi hỏi phải “phối hợp chặt chẽ” trong bối cảnh, yêu cầu mới. 

    Thực tế cho thấy, quyền lực nhà nước luôn có thể bị lợi dụng, lạm dụng, tha hóa ở bất cứ nhánh quyền lực nào nếu không bị kiểm tra, giám sát thường xuyên, có hiệu quả từ trong nội bộ của bộ máy nhà nước lẫn kiểm soát từ bên ngoài của xã hội. James Madison - cha đẻ của Hiến pháp Hoa Kỳ - đã nhận xét rất hay về điều này: “Nếu con người là những thiên thần thì không cần thiết phải có chính quyền. Nếu các thiên thần cai quản thì không cần thiết phải có sự kiểm soát đối với chính quyền dù từ bên ngoài hay bên trong”[4]. Yêu cầu kiểm soát quyền lực được đặt ra trong nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước ta bắt nguồn từ đòi hỏi khách quan đối với mọi nhà nước, mọi chế độ chính trị theo chính thể cộng hòa dân chủ. Cần nói thêm rằng, trong điều kiện của hệ thống chính trị Việt Nam, dù chỉ bổ sung một từ “kiểm soát” nhưng phải đến Đại hội XI Đảng ta mới có thể thực hiện được. Điều đó cho thấy, so với các quan điểm thống nhất, phân công, phối hợp thì quan điểm kiểm soát quyền lực nhà nước phức tạp, nhạy cảm, khó khăn hơn rất nhiều trong tư duy và thực thi. Cho nên, nếu không được nhận thức đúng, có cơ chế thực hiện thường xuyên, đảm bảo hiệu lực, hiệu quả thì kiểm soát quyền lực nhà nước chỉ tồn tại như một yêu cầu chính trị đơn thuần, không như xã hội kỳ vọng. Đó là lý do để Đại hội XIII của Đảng bổ sung yêu cầu “tăng cường kiểm soát” đối với quyền lực nhà nước.

    2.2. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn 10 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) và 35 năm đổi mới, Đảng ta đã chỉ ra những kết quả chủ yếu trong tổ chức thực thi nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước: “Cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp ngày càng rõ hơn và có chuyển biến tích cực[5]. Tuy vậy, “Cơ chế kiểm soát quyền lực chưa hoàn thiện, vai trò giám sát của nhân dân chưa được phát huy mạnh mẽ”[6] và “…chức năng, nhiệm vụ, phân cấp, phân quyền chưa thật rõ ràng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động còn hạn chế…”[7]. Thực tế cho thấy trong lĩnh vực này còn nhiều hạn chế, vướng mắc, cụ thể như:

    - Việc phân công giữa quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp vẫn còn những điểm chưa rõ ràng, chưa được luận cứ về phương diện khoa học. Chẳng hạn: quyền công tố, kiểm soát hoạt động tư pháp được giao cho Viện Kiểm sát nhân dân thuộc quyền nào trong 3 quyền nói trên ? Phải chăng, đó là quyền thứ 4 của quyền lực nhà nước ở Việt Nam ? Nên hiểu tư cách “cơ quan hành chính nhà nước cao nhất” của Chính phủ thế nào cho đúng trong khi Chính phủ không trực tiếp thực thi các công việc hành chính sự vụ mà chỉ lãnh đạo, kiểm tra việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của hệ thống các cơ quan hành chính thuộc mình ?

    - Vẫn còn sự giao thoa, chồng lấn về chức năng, nhiệm vụ của một số cơ quan nhà nước (bảo vệ môi trường, an toàn thực phẩm, lao động, năng lượng, đầu tư xây dựng, bảo hiểm y tế, xây dựng và thực thi pháp luật…). Điều đó dẫn đến tình trạng: có việc do nhiều cơ quan có thẩm quyền, nhiệm vụ thực thi nhưng có việc không thuộc về trách nhiệm của cơ quan nào. Theo Báo cáo số 392/BC-CP ngày 22/9/2017 của Chính phủ thì mặc dù cơ bản đã khắc phục được tình trạng bỏ trống, chồng lấn giữa các cơ quan hành pháp của năm 2011 (2 vấn đề bỏ trống, 16 vấn đề giao thoa, chồng lấn, 4 vấn đề cần tăng cường phối hợp) nhưng đến tháng 9/2017 vẫn còn 3 vấn đề còn giao thoa, có ý kiến khác nhau, 9 vấn đề cần có sự phân công, phối hợp giữa các Bộ và cơ quan ngang Bộ[8].

    - Phân công chưa hợp lý dẫn đến phối hợp chưa chật chẽ, nhịp nhàng, không rõ trách nhiệm của cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp, có trường hợp tạo khoảng trống quản lý. Ví dụ: nhiệm vụ quản lý gia đình và trẻ em được giao cho 2 Bộ: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã dẫn đến những bất cập trong phối hợp của 2 Bộ này. Ngoài ra, còn có những nhiệm vụ thậm chí, giao cho 3 ngành (an toàn thực phẩm, quản lý giao thông đô thị, hỗ trợ phát triển nông thôn…). Vì thế, có cơ sở để khẳng định khâu yếu nhất trong nguyên tắc phối hợp chính là sự phối hợp giữa các bộ, ngành và hệ thống cấp dưới của họ.

    - Cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước giữa các các cơ quan nhà nước thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp với nhau vẫn còn những bất cập ở tầm vĩ mô, ví dụ: chưa hình thành cơ chế kiểm soát của cơ quan hành pháp và tư pháp đối với cơ quan lập pháp; việc thực hiện quyền “giám sát tối cao” của Quốc hội chưa thật đúng tính chất, còn dàn trải, chưa tập trung vào những vấn đề lớn của các cơ quan nhà nước; tỷ lệ rất lớn của đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân là người của cơ quan hành pháp và tư pháp cũng là một nguyên nhân hạn chế hiệu quả kiểm soát của các cơ quan dân cử này…Cho nên, vẫn còn tình trạng kiểm soát chiếu lệ, xuê xoa kiểu “dễ người dễ ta”, “người trong nhà”, chưa thật khách quan trong nhận định, cương quyết trong xử lý. Vì thế, có những trường hợp trước khi bị kỷ luật, khởi tố đã không hề phát hiện có sai phạm gì qua nhiều lần kiểm tra, thanh tra, thậm chí còn được tuyên dương, khen thưởng trong nhiều năm trước đó.

    Đồng thời, việc kiểm soát từ bên ngoài của các cơ quan Đảng, của các tổ chức chính trị - xã hội, của truyền thông…vẫn chưa thường xuyên, chưa hiệu quả vì thể chế, cơ chế của sự kiểm soát bên ngoài vẫn còn nhiều điểm bất hợp lý, chậm được sửa đổi. Chẳng hạn: chưa có quy định cụ thể về 4 vấn đề cần trưng cầu ý dân theo quy định của điều 6 Luật trưng cầu ý dân năm 2016; về hoạt động giám sát và phản biện xã hội của nhân dân. Ngay với các thiết chế kiểm soát độc lập như Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán nhà nước, Cơ chế bảo vệ Hiến pháp cũng còn nhiều nội dung phải được tiếp tục hoàn thiện trước yêu cầu của tình hình mới…

    Tóm lại, trong thời gian qua, mặc dù đạt được nhiều kết quả quan trọng và “có chuyển biến tích cực” trong nhận thức cũng như thực thi nguyên tắc tổ chức quyền lực nhưng nhìn tổng thể, sự phân công chưa thật rành mạch, hợp lý; sự phối hợp còn thiếu chặt chẽ, nhịp nhàng; kiểm soát quyền lực nhà nước còn chưa thường xuyên, hiệu quả. Đó là lý do, cơ sở để Đại hội XIII của Đảng có những bổ sung quan trọng, yêu cầu cấp thiết về nhận thức và tổ chức thực hiện đối với nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước ta trong tình hình mới. Theo đó, một mặt, đây là sự bổ sung rất quan trọng về lý luận xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam và mặt khác, là điều kiện cần thiết thúc đẩy tiến trình đổi mới hệ thống chính trị, tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế - xã hội, hoạt động đối ngoại của nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay và thời kỳ tiếp theo./.

     


    [1] Đảng CS Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb CTQGST, Hà Nội, 2021, tr.72

    [2] Như trên, tr.89

    [3] Như trên, tr. 174 - 175

    [4] Richard C. Schroeder, Khái quát về chính quyền Mỹ, Nxb CTQG, HN, 1999, tr.55

    [5] Đảng CS Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb CTQGST, HN 2011, tr. 72

    [6] Như trên, tr. 89

    [7] Như trên, tr. 90

    [8] http://quochoi.vn/hoatdongcuaquochoi/cackyhopquochoi/quochoikhoaXIV/Pages/kyhopthutu/van-kien-tai-lieu.aspx?ItemID=3881

    • Năm phát hành
    • Đang truy cập:43
    • Hôm nay: 808
    • Tháng hiện tại: 54631
    • Tổng lượt truy cập: 241190
    Địa chỉ: Số 232 Nguyễn Công Trứ, Tp. Đà Nẵng
    Liên hệ: 02363.831.174
    Fax: 02363.844.611