ĐỒNG CHÍ TỐ HỮU - NGƯỜI LÃNH ĐẠO MẶT TRẬN TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRONG THỜI KỲ CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC

    30/09/2020 03:18 PM


    Tố Hữu là nhà thơ lớn của thi ca cách mạng, của nhân dân Việt Nam; cả sự nghiệp sáng tạo văn chương và sự nghiệp cách mạng của ông và thế hệ những nhà thơ cách mạng như ông luôn chứa đựng những giá trị sâu sắc gắn liền với văn hóa dân tộc. Nhân kỷ niệm 100 năm Ngày sinh đồng chí Tố Hữu (04/10/1920 – 04/10/2020), Ban Biên tập Website trân trọng giới thiệu bài viết “Đồng chí Tố Hữu - người lãnh đạo mặt trận tư tưởng của Đảng trong thời kỳ chống Mỹ, cứu nước” của PGS, TS Đoàn Triệu Long (Q.Giám đốc Học viện Chính trị khu vực III)

    I. Những trọng trách đồng chí Tố Hữu đảm nhận trên mặt trận tư tưởng của Đảng thời kỳ chống Mỹ cứu nước

    Ngày 20 tháng 7 năm 1954, Hiệp định Genève được ký kết, Việt Nam bị chia cắt thành hai miền với ranh giới là Vĩ tuyến 17. Ở miền Bắc, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, công tác tư tưởng và đặc biệt là lĩnh vực văn hóa, văn nghệ luôn được quan tâm, chú trọng. Tất cả các vấn đề liên quan đến văn hóa, văn nghệ đều được hướng theo quan điểm, đường lối xã hội chủ nghĩa, cách mạng dân tộc, phục vụ cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc. Các hoạt động liên quan đến văn học nghệ thuật cũng đều vận động theo dòng chung này và trở thành một trong những mặt trận quan trọng góp phần vào thắng lợi chung của đất nước.

    Gắn với thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội (1954 - 1975), công tác - mặt trận tư tưởng của Đảng đã góp phần quan trọng vào thắng lợi vĩ đại của dân tộc. Những thành tựu trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và chiến tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc đều có sự đóng góp rất lớn của công tác tư tưởng - mặt trận, và trong đó, đồng chí Tố Hữu có vai trò quan trọng.

    Với tài năng, nhiệt huyết và lý tưởng của người chiến sĩ Cộng sản, đồng chí Tố Hữu đã được Đảng và Nhà nước tin tưởng giao trọng trách đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng trên cương vị lãnh đạo mặt trận tư tưởng của Đảng trong thời kỳ chống Mỹ, cứu nước: Năm 1950, đồng chí được giao làm Trưởng ban Tuyên truyền Trung ương Đảng (theo Quyết định số 55 QĐ/TƯ, ngày 14-9-1950 của Ban Bí thư về việc thành lập Ban Tuyên truyền và Ban giáo dục Trung ương Đảng). Theo đó: “Ban Tuyên truyền Trung ương Đảng do đồng chí Thận (tức đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh) phụ trách. Đồng chí Tố Hữu là Trưởng ban”[1]; năm 1951, đồng chí tham gia lãnh đạo Ban Tuyên huấn (theo Quyết định số 09 QĐ/TƯ, ngày 16-4-1951 của Trung ương); năm 1955, làm Trưởng ban Ban Tuyên huấn Trung ương (theo Quyết định số 23 QĐ/TƯ ngày 3-11-1955: Nghị quyết về nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Ban Tuyên huấn Trung ương); năm 1960, sau Đại hội III của Đảng, đồng chí đã được Bộ Chính trị cử làm Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương; năm 1968, Bộ Chính trị Quyết định số 1584-NQ/TƯ chia Ban Tuyên giáo Trung ương thành hai ban là Ban Tuyên huấn và Ban Khoa học giáo dục. Theo sự phân công của Bộ Chính trị, đồng chí Tố Hữu, Bí thư Trung ương Đảng khóa III làm Trưởng ban Tuyên huấn Trung ương và Trưởng ban Khoa giáo Trung ương… Sau khi đất nước thống nhất, từ 1975 - 1979, đồng chí Tố Hữu tiếp tục được Đảng và Nhà nước giao nhiệm vụ làm Trưởng ban Ban Tuyên huấn Trung ương.

    II. Vai trò của đồng chí Tố Hữu trên mặt trận tư tưởng của Đảng

    1. Trong việc tuyên truyền đường lối cách mạng, hiệu triệu nhân dân thực hiện nhiệm vụ xây dựng Chủ nghĩa xã hội và Kháng chiến chống Mỹ cứu nước

    Giai đoạn chống Mỹ cứu nước, Tố Hữu có ba tập thơ tiêu biểu: Gió lộng (1955-1961), Ra trận (1962-1971) và Máu và hoa (1972-1977). Âm hưởng chủ đạo của tập thơ Gió lộng là ngợi ca cuộc sống mới xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, thể hiện nỗi đau chia cắt, tình cảm tha thiết với miền Nam và ý chí thống nhất Tổ quốc. Nhiều trang thơ của ông in bóng một quá khứ của dân tộc với nhiều khổ đau, lam lũ và hào sảng quật cường; từ đó lấp lánh hiện lên niềm tự hào của những con người làm chủ vận mệnh, làm chủ đất nước, vững tin vào tương lai. Hai tập Ra trận, Máu và Hoa là những khúc ca ra trận, là mệnh lệnh tiến công và lời kêu gọi, cổ vũ chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong cuộc chiến đấu ở cả hai miền Nam, Bắc cho tới ngày toàn thắng.

    Với nhiệm vụ chính trị quan trọng của thi sĩ - chiến sĩ, Tố Hữu ý thức sâu sắc về sứ mạng thơ là vũ khí tuyên truyền, kêu gọi, cảm hoá người đọc, người nghe, mà cách hữu hiệu nhất là dùng tình cảm. Vậy nên thơ Tố Hữu luôn thấm đẫm tình cảm được xuất phát từ trái tim dạt dào cảm xúc. Tố Hữu đã thể hiện tài năng đặc biệt về khả năng hòa quyện giữa cái chung và cái riêng trong tình cảm cách mạng. Điều này phù hợp với trái tim đa cảm, nặng nghĩa tình, nhất là sự coi trọng huyết thống của người Việt. Tố Hữu đã khéo léo khai thác tình cảm nhân từ, đức hy sinh cao cả của người mẹ dành cho con. Những bài thơ sâu nặng nghĩa tình như Mẹ Tơm, Mẹ Suốt, Bà má Hậu Giang… đã nói lên sự gắn kết keo sơn về tình quân dân như cá với nước, như mẹ với con. Mẹ sẵn sàng chấp nhận hy sinh để bảo toàn tính mạng cho các con mình - những người con cách mạng:

    “Má già nhắm mắt, rưng rưng

    Các con ơi! ở trong rừng U Minh

    Má có chết, một mình má chết

    Cho các con trừ hết quân Tây!”

    (Bà má Hậu Giang)

    Nói về Bác Hồ, với mạch nguồn tình cảm dào dạt và sâu sắc, với tấm lòng yêu mến chân thành và thiết tha, Tố Hữu đã khai thác tình cảm thương yêu, gắn bó của đại gia đình dân tộc Việt Nam, nơi mà vị lãnh tụ kiệt xuất được ví như vị cha già của dân tộc:

    “Bác nhớ miền Nam, nỗi nhớ nhà.

    Miền Nam mong Bác, nỗi mong cha”

    (Bác ơi!)

    Thời kỳ chống Mỹ cứu nước, công tác tuyên truyền, cổ động ở miền Bắc tập trung cổ vũ khí thế thi đua yêu nước thông qua các khẩu hiệu có sức lay động lòng người, như: “Chắc tay súng, vững tay cày”, “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, các phong trào “Ba sẵn sàng” trong thanh niên, “Ba đảm đang” trong phụ nữ... Tố Hữu dùng những sự việc, hình ảnh rất đời thường để truyền tải lý tưởng chính trị một cách nhuần nhụy, đi vào lòng người:

    “Lúa đứng thẳng hàng, quyết tâm 5 tấn

    Chào cô dân quân vai súng vai cày

    Chân lội bùn, mơ hạ máy bay!

    Chào các cụ Bạch đầu quân trồng cây chống Mỹ

    Chào các mẹ già run tay vá may cho chiến sĩ”

    (Chào xuân 67)

    Công tác tuyên truyền, cổ động tập trung vào khích lệ ý chí tiến công cách mạng, kiên quyết đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn thâm độc của đế quốc Mỹ và tay sai ở miền Nam là một nhiệm vụ lớn lao. Ở mảng đề tài này, Tố Hữu đã xây dựng nên những tượng đài mang tính huyền thoại về anh giải phóng quân, anh bộ đội cụ Hồ, người phụ nữ Việt Nam… Chân dung những người anh hùng ấy mang đậm chất sử thi, đó là lẽ sống lớn, tình cảm lớn, niềm vui lớn của con người cách mạng, có tính dân tộc và thời đại:

    “Ôi trái tim em trái tim vĩ đại

    Còn một giọt máu tươi còn đập mãi

    Không phải cho em. Cho lẽ phải trên đời

    Cho quê hương em. Cho Tổ quốc, loài người!”

    (Người con gái Việt Nam)

    “Hoan hô anh Giải phóng quân

    Kính chào Anh, con người đẹp nhất!

    Lịch sử hôn Anh, chàng trai chân đất

    Sống hiên ngang: bất khuất trên đời

    Như Thạch Sanh của thế kỷ hai mươi

    Một dây ná, một cây chông, cùng tiến công giặc Mỹ”

    (Bài ca xuân 68)

    Tố Hữu đã khẳng định vị trí, ý nghĩa cuộc chiến đấu của dân tộc ta, với tất cả niềm tự hào, kiêu hãnh, tự xác định cho mình một vị trí, một chỗ đứng như là người lính đi đầu:

    “Nếu được làm hạt giống để mùa sau

    Nếu lịch sử chọn ta làm điểm tựa

    Vui gì hơn làm người lính đi đầu

    Trong đêm tối, tim ta làm ngọn lửa!”

    (Chào xuân 67)

    Đây là hình ảnh của người chiến sĩ tiên phong trên mặt trận tư tưởng - văn hóa. Một mặt trận không có tiếng súng nhưng có ý nghĩa “soi đường cho quốc dân đi”, định hướng niềm tin, lẽ sống cho các thế hệ, và gắn bó với vận mệnh của dân tộc.

    Để tiếng thơ của mình đọng lại trong con tim, trong tâm khảm của nhân dân, Tố Hữu đã phát huy tài năng sử dụng ngôn từ gần gũi, quen thuộc với ca dao, dân ca và sự phối hợp âm thanh, nhịp điệu, vần điệu, từ láy, tạo tính nhạc cho ngôn từ. Vì lẽ đó, thơ ông đã đi vào lòng người biết bao thế hệ, tạo nên sức mạnh:

    “Xẻ dọc Trường Sơn, đi cứu nước.

    Mà lòng phơi phới dậy tương lai!”

    (Theo chân Bác)

    2. Người định hướng quan trọng cho cả một thế hệ cách mạng, đặc biệt là đối với đội ngũ văn nghệ sĩ

    Có lẽ trong lòng của thế hệ những người đã sống, chiến đấu trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước, không ai không từng mơ màng, ngâm nga đoạn thơ:

    “…Anh nắm tay em sôi nổi vụng về

    Mà nói vậy, trái tim anh đó,

    Rất chân thật chia ba phần tươi đỏ

    Anh giành riêng cho Đảng phần nhiều

    Phần cho thơ và phần để em yêu”

    (Bài ca xuân 61)

    Không cần bình luận thêm, tự thân những câu thơ đã như một lời tuyên ngôn về sự hòa quyện, thống nhất giữa con người đời thường (công dân) với con người của Đảng (đảng viên); giữa thi nhân và chính trị gia. Nói cách khác, đó là sự nhất quán trong việc lấy lý tưởng cách mạng, quan điểm chính trị làm hệ quy chiếu trong cách nhìn nhận và bày tỏ xúc cảm về mọi phương diện, mọi hiện tượng của đời sống - kể cả đời sống riêng tư. Nhìn ở góc độ rộng hơn, văn học, nghệ thuật chính thống bao giờ cũng có trách nhiệm xây dựng và củng cố chế độ xã hội ấy. Vậy nên, đối với văn nghệ sĩ, trong bất cứ hoàn cảnh nào thì đạo đức xã hội luôn là bổn phận và trách nhiệm. Cũng từ đó, với cương vị lãnh đạo mặt trận tư tưởng của Đảng trong thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, Tố Hữu luôn là người lấy mục tiêu chung của dân tộc làm phương châm hành động. Trong quá trình đảm nhiệm cương vị lãnh đạo, Tố Hữu đã góp một phần quan trọng trong việc bảo vệ, xây dựng và tạo sự ổn định đối với nền tảng tư tưởng của Đảng.

    Đi suốt hành trình cách mạng - từ chống Pháp đến chống Mỹ, với các tập Từ ấy (1937 - 1946), Việt Bắc (1947 - 1954), Gió lộng (1955 - 1961), Ra trận (1962 - 1971), Máu và Hoa (1972 - 1977),... Thơ của Tố Hữu “đã hiện diện trong đời sống cách mạng và đời sống văn học của dân tộc ta như một hiện tượng tinh thần có sức thu hút và cổ vũ lớn lao với hàng triệu người”[2] và “Thiếu vắng thơ Tố Hữu là thiếu đi hình ảnh và âm hưởng hào hùng của cuộc chiến đấu của dân tộc trong đời, trong thơ”[3]... Với cương vị lãnh đạo công tác tư tưởng, văn hóa, Tố Hữu đã luôn ý thức rằng văn học, nghệ thuật không thể đứng ngoài chính trị, không thể tách khỏi sự lãnh đạo của Đảng. Ý thức về nhiệm vụ cao cả cộng với vai trò quan trọng trong công tác lãnh đạo mặt trận tư tưởng, ông đã định hướng, xây dựng cho Đảng một đội ngũ văn nghệ sĩ tiến bộ, hết lòng vì sự nghiệp chung. Ngay với con đường nghệ thuật của bản thân, Tố Hữu quan niệm: “Nhà thơ chân chính phải không ngừng phấn đấu, tu dưỡng về lập trường tư tưởng; xác định thật rõ ràng tầm nhìn, cách nhìn. Tự nguyện gắn bó chân thành là yêu cầu cao nhất đối với người nghệ sĩ trong quan hệ với đất nước, với nhân dân. Ngoài ra, các nhà thơ Cách mạng còn phải kiên quyết đấu tranh, không khoan nhượng trước những biểu hiện lệch lạc, với cái xấu cái ác”.

    Xác định yêu cầu của thời đại, Tố Hữu ý thức rằng thơ văn trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ phải là những bài ca ra trận, là khẩu hiệu và mệnh lệnh chiến đấu. Điều này lý giải vì sao Tố Hữu đã không ngần ngại đưa vào thơ mình cả những lời hiệu triệu, khẩu hiệu tuyên truyền cổ động và cả mệnh lệnh:

    “Hãy gầm lên như sấm sét đùng đùng

    Tất cả pháo

    Và xông lên, dũng sĩ”

    (Bài ca Xuân 68)

    Đánh giá về việc Tố Hữu định hướng cho đội ngũ văn nghệ sĩ cách mạng, nhiều nhà văn, nhà thơ, cùng các nhà nghiên cứu (như Nguyễn Khoa Ðiềm, Trần Hoàn, Hữu Thọ, Ðặng Thai Mai, Chế Lan Viên, Hoài Thanh, Huy Cận, Xuân Diệu, Nguyễn Ðình Thi...) đã cho rằng Tố Hữu luôn đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp của họ. Theo nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm: “Các tầng lớp văn nghệ sĩ, trong đó rất nhiều người thuộc thế hệ đàn anh, tìm thấy ở Tố Hữu một người bạn chân thành, gần gũi, người kiên trì đường lối văn hóa, đấu tranh không khoan nhượng với quan điểm văn hóa thù địch, trước sau như một khẳng định mục tiêu phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân. Các nhà thơ Thế Lữ, Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Chế Lan Viên, Huy Cận, Tế Hanh, Anh Thơ, Hoàng Trung Thông, Xuân Sanh, Thôi Hữu, Chính Hữu...; các nhà văn Tô Hoài, Nguyễn Tuân, Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng, Nguyễn Đình Thi, Hoài Thanh, Nam Cao, Võ Huy Tâm, Kim Lân, Nguyễn Khải...; các nhạc sĩ Văn Cao, Lưu Hữu Phước, Nguyễn Xuân Khoát, Đỗ Nhuận, Nguyễn Đức Toàn, Hoàng Hiệp, Xuân Hồng, Phạm Minh Tuấn, Trần Hoàn... các họa sĩ Nguyễn Phan Chánh, Trần Văn Cẩn, Tô Ngọc Vân..., các nhà điêu khắc, nhiếp ảnh, kiến trúc sư, nhà quay phim, nghiên cứu, giảng dạy văn học, nghệ thuật đến với Tố Hữu không chỉ là chỗ dựa tin cậy ở buổi đầu “nhận đường”, người đồng hành am hiểu, mà còn nhận được ở anh lòng kính trọng, tin yêu thật sự, sự cổ vũ, động viên suốt cuộc đời hiến dâng, sáng tạo. Anh chăm lo phát hiện, bồi dưỡng các tài năng trẻ, khuyến khích họ sáng tác để tự khẳng định mình. Anh đặc biệt quan tâm đến bộ máy điều hành, điều kiện làm việc của văn học, nghệ thuật.”[4]. Cũng theo Nguyễn Khoa Điềm: “Tất cả thế hệ chúng tôi khi làm thơ, đều bắt đầu từ việc đọc thơ Tố Hữu. Vì thế, Tố Hữu như một người “thợ cả” đối với những người làm thơ, làm nghề thơ.”[5].

    Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đã kể lại trong Nhật ký (1959): “Lên gặp Tố Hữu. Nhắc chuyện 1956, một dự định kịch và tiểu thuyết của ta cái hồi ấy... Tố Hữu đã góp cho nhiều ý kiến về vấn đề này”. Còn nhà nghiên cứu, nhà báo Hà Đăng thì nhận xét: “Tố Hữu lớn trong tư cách nhà thơ, lớn cả trong vai trò nhà lãnh đạo chủ chốt mặt trận tư tưởng, văn hóa văn nghệ nước ta trong thời gian dài - suốt hai cuộc kháng chiến cứu nước và nhiều năm sau này. Là người hăm hở trong xây dựng nền văn hóa, văn nghệ nhân dân, cũng là người say mê trong xây dựng nền văn hóa mới, con người mới, một nền văn hóa mang đậm tính dân tộc, tính tiên tiến và tính nhân văn. Tố Hữu rất coi trọng việc khai thác và phát huy các vốn cổ dân tộc, những loại hình văn học nghệ thuật dân gian, cổ truyền của cộng đồng, của từng dân tộc và từng địa phương”[6]. Có thể khẳng định rằng: Chính sự định hướng quan trọng của Tố Hữu đối với đội ngũ văn nghệ sĩ cách mạng đã giúp cho văn hóa văn nghệ thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước có chung giọng tráng ca và “Bay theo đường dân tộc đang bay”; và cũng bởi vậy mà “Vóc nhà thơ đứng ngang tầm chiến lũy" (Chế Lan Viên).

    3. Ngọn cờ đầu trong việc đưa tính Đảng vào văn học

    Trong văn học, biểu hiện đầy đủ nhất của khuynh hướng tư tưởng, đó là sự bảo vệ và đấu tranh một cách tự giác cho những lợi ích chính trị của một giai cấp hoặc một lực lượng xã hội nhất định trong sáng tác. Với Tố Hữu, ở góc độ một nhà – thơ – cách – mạng, ông luôn ý thức về việc phải đấu tranh một cách tự giác và bảo vệ Đảng. Vậy nên ngay từ đầu, nhà thơ cho rằng mình đã thuộc về Đảng, và Đảng là một phần máu thịt không thể thiếu trong sự nghiệp sáng tạo thi ca của nhà thơ:

    “Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ

    Mặt trời chân lý chói qua tim”

    (Từ ấy)

    Việc đưa tính Đảng vào văn học, nghệ thuật không phải chỉ riêng Tố Hữu mới có, song có thể nói rằng sự thống nhất giữa con người thi sĩ và con người làm công tác lãnh đạo tư tưởng và văn hóa đã làm cho Tố Hữu trở thành trường hợp điển hình. Thơ ca Việt Nam từ sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, tính Đảng đã trở thành mối liên hệ giữa văn học với sự nghiệp của giai cấp vô sản và Đảng của giai cấp. Tố Hữu đưa tính Đảng vào văn học bằng kinh nghiệm và thực tiễn nghệ thuật của bản thân, và cũng chính điều này góp phần làm cho thơ ca kháng chiến chống Mỹ cứu nước trở nên chân thật, gần gũi, giá trị nghệ thuật cũng vì thế mà sâu sắc hơn. Với Tố Hữu, bắt đầu từ “Mặt trời chân lý chói qua tim” (Từ ấy - 1937) cho đến “Sống là cho, chết cũng là cho” (Tạm biệt - 2002), tính Đảng trở thành một phần máu thịt của chủ thể sáng tạo. Đảng trong Tố Hữu cũng đồng nghĩa với dân tộc Việt Nam và Bác Hồ kính yêu:

    “Dắt dìu dân nước Việt Nam ta

    Bạc phơ mái tóc người cha

    Ba mươi năm Đảng nở hoa tặng Người”.

    (Ba mươi năm đời ta có Đảng)

    “Rằng thơ với Đảng nặng duyên tơ.

    Thuyền đi theo lái qua mưa gió.

    Không lái thuyền đi lạc bến bờ”.

    (Chuyện thơ)

    Rõ ràng, với Tố Hữu, thơ và Đảng đã hòa quyện làm một ngay từ khi ông xác định đứng trong hàng ngũ của Đảng để phục vụ nhân dân và để làm thơ. Hai công việc tưởng chừng như rất khác nhau ấy đối với nhiều người, còn với Tố Hữu đó là hai mặt, hai khía cạnh của con người ông. Đấy là mục đích, lý tưởng và lẽ sống của ông trong suốt cuộc đời:

    “Đảng dạy tôi biết ngẩng đầu, đứng dậy

    Vững hai chân, đứng thẳng, làm người

    Tôi đi tới, với bạn đời, từ ấy

    Đến hôm nay, mới thấy trọn vùng trời”

    (Với Đảng, mùa xuân)

    Tính Đảng trong sáng tác của Tố Hữu luôn có sự biện chứng với tính Dân tộc. Trong vai trò lãnh đạo chủ chốt trên mặt trận tư tưởng, văn hóa, văn nghệ nước ta suốt hai cuộc kháng chiến cứu nước và nhiều năm sau này, ông luôn coi trọng việc khai thác, phát huy các vốn cổ dân tộc, những loại hình văn học nghệ thuật dân gian, cổ truyền của cộng đồng, dân tộc, địa phương... Theo nhà thơ Trần Đăng Khoa: “Tố Hữu là một nhà thơ lớn. Nói đúng hơn, ông là nhà thơ lãng mạn cách mạng. Cả cuộc đời ông gắn bó với cách mạng. Thơ với đời là một. Trước sau đều nhất quán. Tố Hữu nhìn cách mạng bằng con mắt lãng mạn của một thi sĩ. Thơ ông dường như chỉ có một giọng. Đó là giọng hát tưng bừng ca ngợi cách mạng. Đọc ông trong bất cứ hoàn cảnh và tâm trạng nào, ta cũng thấy phấn chấn, náo nức như đi trẩy hội” (Chân dung và đối thoại).

    4. Người đưa “không khí quốc tế cộng sản” vào thơ ca Việt Nam thời chống Mỹ

    Khi bàn về trào lưu văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa trong thế kỷ XX, nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ đã nhận định: “Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa không xóa nhòa ranh giới giữa các phạm trù thẩm mỹ, các hình thức thể loại, các dạng thức khái quát nghệ thuật khác nhau nhưng cũng không đối lập chúng một cách siêu hình mà có khả năng tổng hợp các yếu tố riêng rẽ đó vào trong những chỉnh thể mới, tổng thể mới. Trong sự tổng hợp mới này diễn ra một quá trình thâm nhập vào nhau giữa các yếu tố trữ tình và anh hùng ca, hiện thực và lãng mạn, cảm xúc và trí tuệ, sử thi và tâm lý”[7]. Đối chiếu nhận xét này của Phan Cự Đệ vào trường hợp Tố Hữu, chúng ta càng thấy rõ hơn về “không khí quốc tế cộng sản” ở Tố Hữu.

    Tố Hữu đến với cách mạng, đến với Đảng đồng nghĩa với việc ông đến với quốc tế cộng sản. Những năm tháng kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Việt Nam luôn nhận được sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế và những người yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới. Với cương vị lãnh đạo công tác tư tưởng của Đảng, Tố Hữu là người nhận thức rất rõ về vấn đề này. Vốn sẵn trong mình một lý tưởng Cộng sản cao đẹp, lại ở cương vị lãnh đạo mặt trận tư tưởng của Đảng nên ông đã trực tiếp thể hiện tinh thần quốc tế cộng sản, tinh thần yêu chuộng hòa bình vào thơ ca của mình. Các bài thơ: Qua Liễu Châu, Đường sang nước bạn, Trước Krem-lin, Với Lê-nin, Em ơi... Ba Lan, Từ Cuba... đã thể hiện niềm vui, niềm tin tưởng và lòng biết ơn với những đất nước anh em, với bè bạn quốc tế trong tình cảm cao cả của những người cách mạng:

    “Mùa xuân đó, quê em ấm áp

    Chân người đi, vào cuộc đời chung

    Ngựa đang kéo đồng lên hợp tác

    Đường ta đi tấp nập vô cùng!”

    (Em ơi... Ba Lan)

    “Ôi Lê-nin

    Đứng bên Người

    Và đứng trước Krem-lin

    Mỗi con người lớn lên nghìn thước”.

    (Trước Krem-lin)

    Các sáng tác của Tố hữu được nuôi dưỡng, ấp ủ và sáng tạo trong không khí thời sự, trong lý tưởng của người cộng sản, vì vậy có giá trị kịp thời động viên tinh thần chiến đấu của quân và dân cả nước. Đánh giá về sự thống nhất giữa người lãnh đạo và người nghệ sĩ trong con người Tố Hữu, nhà nghiên cứu Đặng Thai Mai đã nhận định: “Tình cảm trong thơ Tố Hữu là tình cảm của một chiến sĩ cộng sản, luôn luôn đứng trên lập trường của Đảng mà tranh đấu, suy nghĩ, cảm xúc”[8]. Đây là một trong những nguyên nhân lý giải vì sao “Thơ ông thường nhân danh cái ta mà kêu gọi quàn chúng hoặc trình bày những vấn đề lớn lao, cao cả chứ ít khi là tiếng nói của một cái “tôi” trữ tình”[9].


    [2] Nguyễn Văn Long, “Tố Hữu”, Lịch sử Văn học Việt Nam (tập 3), Nxb Đại học Sư phạm, H, 2002, tr.188.

    [3] Hà Minh Đức (2009), “Đường thơ Tố Hữu”, Văn chương và thời cuộc, Nxb Khoa học xã hội, H, tr.207.

    [6] Hà Đăng, “Tố Hữu – 'ông hoàng' của thơ tình yêu lãng mạn cách mạng”,  http://www.nhandan.com.vn/hangthang/van-hoa/item/27826102-to-huu-%E2%80%9Cong-hoang%E2%80%9D-cua-tho-tinh-yeu-lang-man-cach-mang.html.

    [7] Phan Cự Đệ (2006), “Trào lưu văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa”, Phan Cự Đệ Tuyển tập, tập 1, Nxb Giáo dục, H, tr.96.

    [8] Đặng Thai Mai (1959), “Mấy ý nghĩ” (viết ngày 10/4/1959, in trong tập Từ ấy), Thơ Tố Hữu, Nxb Văn Học, H.

    [9] Từ điển Văn học (Bộ mới), Nxb Thế Giới, Hà Nội, tr.1753.

    • Năm phát hành
    • Đang truy cập:21
    • Hôm nay: 225
    • Tháng hiện tại: 31366
    • Tổng lượt truy cập: 504961
    Địa chỉ: Số 232 Nguyễn Công Trứ, Tp. Đà Nẵng
    Liên hệ: 02363.831.174
    Fax: 02363.844.611