TỪ TÁC PHẨM DÂN VẬN CỦA HỒ CHÍ MINH NGHĨ VỀ CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG TÔN GIÁO Ở MIỀN TRUNG - TÂY NGUYÊN HIỆN NAY

    14/10/2020 03:47 PM


    Đã hơn 70 năm kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tác phẩm Dân vận, nhưng những giá trị, ý nghĩa và sức lan tỏa của tác phẩm đến nay vẫn còn nguyên tính thời sự. Thông qua tác phẩm, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ tầm quan trọng của công tác dân vận và yêu cầu mọi cán bộ, đảng viên phải lấy dân làm đối tượng phục vụ, luôn gần gũi với nhân dân để thấu hiểu dân tình, chăm lo dân sinh, nâng cao dân trí và thực hành dân chủ. Để làm tốt công tác dân vận, Người cho rằng, phải cho dân biết, giải thích cho dân hiểu, bày cách cho dân làm. Cán bộ làm công tác dân vận phải quán triệt phương châm “óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm”. Hồ Chí Minh cho rằng, công tác dân vận không thuần túy chỉ là nhiệm vụ chính trị, mà còn là một khoa học, một nghệ thuật mà đích đến là làm sao cho những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến được với dân, làm cho dân hiểu, dân nhớ, dân tin, từ đó hăng hái, tự nguyện, tự giác tham gia. Đây là yêu cầu quan trọng để tập hợp và phát huy sức mạnh của nhân dân, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Với những tư tưởng cốt lõi đó, tác phẩm Dân vận  được xem như là Cương lĩnh dân vận” của Đảng Cộng sản Việt Nam trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây, cũng như trong sự nghiệp đổi mới xây dựng đất nước hiện nay.

    Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, tôn giáo[1], trong đó miền Trung - Tây Nguyên là một trong những địa bàn có nhiều tôn giáo cùng tồn tại, vừa tạo nên sự đa dạng về văn hóa, nhưng đồng thời cũng có nhiều vấn đề xã hội phức tạp nảy sinh. Vì vậy, các thế lực thù địch đã lợi dụng vấn tôn giáo để chống phá đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, nhằm gây mất ổn định chính trị - xã hội trên địa bàn.

    Nhận thức rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, thời gian qua, công tác vận động quần chúng tín đồ các tôn giáo ở miền Trung - Tây Nguyên đạt được nhiều kết quả tích cực . Các cấp chính quyền phối hợp với Mặt trận và các hội, đoàn thể thường xuyên tổ chức tuyên truyền, vận động các chức sắc, tín đồ  tôn giáo. Công tác tiếp xúc, tranh thủ các chức sắc, tín đồ tiêu biểu, uy tín, bám sát cơ sở, chăm lo lợi ích chính đáng của các tầng lớp nhân dân được chú trọng. Từ đó, vận động đồng bào các tôn giáo ở miền Trung – Tây Nguyên chấp hành đúng các quy định của Nhà nước, đồng thuận trong sự nghiệp chung của đất nước, tham gia tích cực các phong trào thi đua yêu nước, cùng chung tay xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

    Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả đáng ghi nhận, công tác vận động quần chúng tín đồ các tôn giáo ở miền Trung - Tây Nguyên vẫn còn có những hạn chế cần được quan tâm. Ở một số địa bàn cơ sở, việc nắm tình hình tôn giáo để làm công tác vận động trên địa bàn còn chưa sâu sát. Có nơi, vẫn còn những cán bộ quan liêu, xa rời quần chúng, chưa thực sự quan tâm đến tâm lý, nguyện vọng của đồng bào có đạo; chưa thực sự lắng nghe và kịp thời giải thích tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước để người dân hiểu một cách thấu đáo qua đó có nhận thức và hành động đúng.

    Một số trường hợp ở vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa thì việc tuyên truyền, vận động còn nhiều vấn đề bất cập. Vẫn có nơi chưa đánh giá đúng mức công tác vận động quần chúng các tín đồ tôn giáo. Chưa thực sự coi trọng công tác tuyên truyền, vận động, cảm hoá, giáo dục để đồng bào các tôn giáo có niềm tin một cách vững chắc vào sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nước và chính quyền địa phương. Đặc biệt, sự phối hợp công tác vận động tín đồ tôn giáo giữa các ban, ngành ở cơ sở còn thiếu đồng bộ, lúng túng, bị động trong xử lý các vấn đề liên quan đến tôn giáo nhạy cảm. Một số địa bàn do chưa làm tốt công tác vận động quần chúng nên chưa tạo ra được tiếng nói chung trong xử lý, giải quyết các vụ việc tranh chấp, vướng mắc. Cho đến nay, ở một số địa phương tại  miền Trung - Tây Nguyên vẫn còn một số vụ việc liên quan đến tôn giáo tồn đọng kéo dài, chưa thể giải quyết dứt điểm tạo lên một tâm lý không tốt trong một số quần chúng và vẫn âm ĩ những nguy cơ về tình hình bất ổn về an ninh xã hội trên địa bàn. Tình hình lại càng phức tạp hơn khi các lực lượng thù địch vẫn luôn ráo riết thực hiện mưu đồ lợi dụng tôn giáo nhằm chống phá chế độ ta.  Cùng với đó là sự xuất hiện và tuyên truyền của các lực lượng truyền giáo cực đoan, các “đạo lạ” khiến cho tư tưởng và tâm lý của đồng bào các dân tộc thiểu số có những diễn biến hết sức phức tạp.

    Để giải quyết vấn đề trên đây đòi hỏi phải có nhiều giải pháp đồng bộ, kịp thời, hiệu quả, trong đó công tác dân vận nhằm vận động quần chúng tín đồ theo đạo chấp hành đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu và xuyên suốt. Vì vậy, hiện nay bài học về công tác vận động quần chúng trong tác phẩm Dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh lại có ý nghĩa hơn bao giờ hết. Trong đó, cần quán triệt và thực hiện tốt những nội dung chủ yếu sau đây:

    Thứ nhất, phải xây dựng được đông đảo lực lượng làm công tác vận động tôn giáo. Theo Hồ Chí Minh, “Tất cả cán bộ chính quyền, tất cả cán bộ Đoàn thể và tất cả hội viên của các tổ chức nhân dân (Liên Việt, Việt Minh,v.v.) đều phải phụ trách dân vận[2]. Đối với tôn giáo vận, điều này hết sức quan trọng. Xuất phát từ tính quần chúng, số lượng đông đảo của người dân có tín ngưỡng, tôn giáo, từ sự lan tỏa phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực, nhiều giai tầng xã hội của tín ngưỡng, tôn giáo, việc vận động tôn giáo cần phải được thực hiện một cách rộng rãi với sự chung tay, chung sức của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng.

    Không nên quan niệm rằng việc vận động tôn giáo là trách nhiệm riêng của cán bộ làm công tác tôn giáo hay cán bộ dân vận mà là của tất cả cán bộ, đảng viên. Thực tế hiện nay, công việc trên được “khoán trắng” cho những đơn vị chức năng, còn lại đa số cán bộ đều thờ ơ, thiếu quan tâm. Thậm chí đã có nhiều trường hợp, do chưa ý thức rõ vai trò dân vận, có những cán bộ trong quá trình tiếp xúc đã vô tình có những lời nói, hành động chưa thực sự đúng mực, làm tổn thương, thậm chí làm nhiều tín đồ các tôn giáo có cảm giác bị xúc phạm niềm tin, từ đó họ trở nên xa lánh, không muốn hợp tác với cán bộ chính quyền địa phương.

    Cũng cần lưu ý rằng, hệ thống chính trị cơ sở có một vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong việc tổ chức và vận động quần chúng tín đồ các tôn giáo.  Mặt trận và các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội  như Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên... cần có sự phối kết hợp trong việc vận động tín đồ tôn giáo. Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phải giữ vai trò chủ trì xây dựng kế hoạch, hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động của các tổ chức chính trị - xã hội. Cần chú trọng tăng cường mối quan hệ giữa Ủy ban Mặt trận Tổ quốc với Ban Dân vận, Ban Chỉ huy quân sự, các hội Phụ nữ, Nông dân, Cựu chiến Binh, Đoàn Thanh niên… để công tác tôn giáo thực sự  là công tác của cả hệ thống chính trị.

    Thứ hai, công tác vận động các tôn giáo phải lấy quần chúng các tín đồ làm đối tượng phục vụ, luôn gần gũi và thấu hiểu, không bỏ sót bất cứ một ai.  Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, khi làm công tác dân vận thì phải “vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành những công việc nên làm”[3]. Đối với công tác vận động tôn giáo, để “vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân” tức là phải làm công tác vận động rộng khắp đến tất cả đồng bào các tôn giáo; biết kết hợp vận động chung cho đến vận động từng tín đồ; vận động phổ biến đến cá biệt. Đặc biệt cần kết hợp vận động cả quần chúng tín đồ cho đến đội ngũ chức sắc, chức việc. Cần lưu ý rằng, việc tranh thủ các chức sắc tôn giáo là rất quan trọng. Đối với các cộng đồng tôn giáo thì các chức sắc tôn giáo luôn có một vai trò cực kỳ to lớn. Sự đồng thuận của các chức sắc góp phần quan trọng để vận động các tín đồ ủng hộ một chủ trương hoặc ổn định tình hình trật tự trong những điểm nóng ở địa phương. Xuất phát từ thực tế này, cần tăng cường vận động để đưa các chức sắc cùng tham gia vào những công tác chung của xã hội, lấy chính các chức sắc tôn giáo làm tấm gương về công dân – tín đồ tốt để đồng bào tín đồ các tôn giáo noi theo. Trên thực tế, nhiều địa phương đã nhận thức được điều này để có sự vận động “cá biệt“ với những cách thức đặc thù, qua đó vận động các chức sắc, chức việc trên địa bàn trở thành những “báo cáo viên” tốt đối với đồng bào trong việc thực hiện  đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.

    Thứ ba, phải làm cho quần chúng các tín đồ tôn giáo hiểu và tin, nhằm đoàn kết và phát huy sức mạnh toàn dân trong thực hiện mọi chủ tương, chính sách của Đảng và Nhà nước.  Về phương thức dân vận, Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng,  “Trước hết phải tìm mọi cách giải thích cho mỗi một người dân hiểu rõ ràng: Việc đó là lợi ích cho họ và nhiệm vụ của họ, họ phải hăng hái làm cho kỳ được”[4]. Đối với vận động tôn giáo, lời nhắc nhở trên một lần nữa nêu rõ phương pháp vận động là tuyên truyền, phân tích, giải thích cặn kẽ để đồng bào tôn giáo hiểu và tự nguyện thực hiện. Điều này cũng cảnh báo một thực tế rằng, nếu đồng bào chưa hiểu thì một phần lớn trách nhiệm thuộc về phía những người cán bộ làm công tác vận động – hoặc là chưa đủ nhiệt tình, hoặc là chưa đúng về phương pháp. Vì vậy người thực hiện công tác vận động tôn giáo cần phải hết sức kiên trì, có sự đầu tư thời gian, sức lực, trí lực cho công tác vận động đồng bào các tôn giáo.

    Lĩnh vực tôn giáo, tín ngưỡng liên quan đến vấn đề đức tin và trở thành một nếp sống, nếp nghĩ ăn sâu nhiều đời, nhiều người. Vì vậy, việc vận động cũng cần hết sức mềm dẻo, linh hoạt. Phải biết suy nghĩ và thực sự  phải “tìm mọi cách” cả về nội dung lẫn phương pháp vận động. Xuất phát từ sự đa dạng về dân tộc, địa lý, kinh tế, văn hóa... của quần chúng tín đồ các tôn giáo ở miền Trung – Tây Nguyên, ngoài việc cần trang bị một nền tảng tri thức, kỹ năng vững vàng thì cần thiết huấn luyện cho đội ngũ cán bộ có sự linh hoạt trong phương pháp tuyên truyền, vận động đối với từng đối tượng cụ thể. Cần ý thức rõ rằng, khi tuyên truyền, giáo dục đồng bào tín đồ Công giáo thì sẽ có những nét khác biệt so với đồng bào Phật giáo hay Cao Đài. Khi giải thích về đường lối, chính sách cho các tín đồ các dân tộc thiểu số thì cần thiết phải cụ thể, trực quan dễ hiểu hơn so với các tín đồ sinh sống ở vùng thành thị... Sự ý thức này sẽ giúp đội ngũ làm công tác vận động chú trọng trang bị những tri thức và kỹ năng vừa mang tính cơ bản, vừa đảm bảo tính đặc thù (vùng miền/tôn giáo...) để việc tuyên truyền, giáo dục đồng bào các tôn giáo có kết quả. Đặc biệt là phải thấy rằng việc vận động khác xa với việc sử dụng mệnh lệnh, uy quyền để buộc người dân tuân theo. Điều này một lần nữa khẳng định rằng, thực chất của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng nhân dân cùng thực hiện mục tiêu chung vì lợi ích của cộng đồng xã hội

    Cần xác định rõ công tác chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào vừa là mục tiêu hướng đến, vừa là điều kiện tiên quyết để thực hiện tốt công tác vận động quần chúng đồng bào tôn giáo. “Trăm nghe không bằng một thấy”, sự thuyết phục của nội dung vận động không phải bởi chủ thể vận động “nói hay” mà lời nói đó cần phải được kiểm chứng bằng thực tiễn.

    Thứ tư, cần phải thực sự gần gủi và thể hiện sự tôn trọng đối với đồng bào các tôn giáo. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh “bất cứ việc gì đều phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân, cùng với dân đặt kế hoạch cho thiết thực với hoàn cảnh địa phương, rồi động viên và tổ chức toàn dân ra thi hành”[5]. Để công tác dân vận đạt hiệu quả, việc gần gũi, gắn bó mật thiết với nhân dân, chan hòa, sẻ chia với nhân dân luôn được Hồ Chí Minh chú trọng. Người nhắc nhở cán bộ dân vận cần phải: “thật thà nhúng tay vào việc”. Cụ thể là phải “mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm”, và “làm kiểu mẫu cho dân, giúp dân làm”. Người cũng nghiêm khắc phê bình việc “chỉ nói suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh”.

    Đối với vận động tôn giáo, phải biết cách hòa đồng với cuộc sống của đồng bào các tôn giáo thông qua cách xử sự hài hòa, linh hoạt tạo nên những cảm tình và sự gần gủi đối với nhân dân. Cán bộ cần lắng nghe, chia sẻ tâm tư nguyện vọng cùng đồng bào. Sự chân thành cởi mở  là yếu tố tiên quyết để quyết định dân vận thành công. Cần lưu ý thêm rằng, trong tác phẩm Dân vận để nghiêm khắc chỉ ra sai lầm của việc thiếu ý thức thực hành dân vận, thiếu sự gần gủi với quần chúng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng lối điệp ngữ trạng từ “rất” trong một câu ngắn nhằm nhấn mạng điều này. Rằng “Ðó là sai lầm rất to, rất có hại”.

    Cuối cùng, cũng cần nhận thức rõ từ “khéo” trong câu “Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”[6] đối với lĩnh vực tôn giáo. Theo chúng tôi, ngoài việc gần gủi đồng bào các tôn giáo thì cán bộ cần phải có những kỹ năng cơ bản trong giao tiếp. Bên cạnh việc trang bị những tri thức về quản lý nhà nước và pháp luật đối với tôn giáo thì cán bộ cần thiết phải có một vốn tri thức về tôn giáo, về văn hóa vùng miền; phải có những hiểu biết cơ bản về tôn giáo mà mình vận động (như lịch sử hình thành và phát triển, những nội dung kinh sách, giáo lý cơ bản, cách bố trí ở các cơ sở thờ tự...). Cần phải biết một số nghi thức, nghi lễ cơ bản để không trở nên quá lạc lõng trong ứng xử giữa cộng đồng một tôn giáo – ít nhất là có thể tránh được những từ “húy” của tôn giáo mà bản thân cán bộ đang tìm đến vận động. Trong trường hợp này, chúng ta phải khẳng định: Một người làm công tác vận động tín đồ các tôn giáo không phải là một tín đồ của tôn giáo đó, nhưng chắc chắn cũng không thể giống với một khách du lịch vãn cảnh, chẳng hiểu biết và chỉ nói lý thuyết suông.

    Cái “khéo” trong quá trình tuyên truyền, vận động tôn giáo còn là sự chú trọng phát huy tính đồng thuận, tôn trọng những khác biệt trong các tôn giáo – miễn sao những khác biệt đó không tổn hại đến lợi ích quốc gia. Cần phải quán triệt điều này như một nguyên tắc cơ bản trong nội dung và phương pháp vận động tín đồ các tôn giáo thời kỳ hiện nay. Trên cơ sở nguyên tắc này để người cán bộ làm công tác tuyên truyền giáo dục linh hoạt, mềm dẻo trong quá trình vận động; tránh những tranh luận, gây tổn thương và tạo ra sự mất đoàn kết. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII nhấn mạnh: “Lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” làm điểm tương đồng; tôn trọng những điểm khác biệt không trái với lợi ích chung của quốc gia - dân tộc”[7]. Đây là quan điểm nhằm nâng cao khả năng đoàn kết giữa các bộ phận, cộng đồng trong quốc gia dân tộc Việt Nam vào khối đại đoàn kết dân tộc, tạo ra một “mẫu số chung” để quy tụ các thành phần, bộ phận nhân dân. Và mẫu số chung đó dựa trên sự xuyên suốt của một truyền thống hàng ngàn năm văn hiến, văn hóa của dân tộc. Đó là tinh thần dân tộc, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung, lòng yêu nước, khát vọng toàn vẹn lãnh thổ. Rõ ràng, điều này đã chạm được đến miền riêng nhất của mỗi một “con dân nước Việt” và cũng là điểm đồng quy của cả dân tộc. Vì lẽ đó, nó có đủ sức hút, khả năng để tập hợp, đoàn kết mọi người dân Việt Nam một cách chặt chẽ và rộng rãi nhất. Làm được như vậy mới thực sự là “khéo” – để thu phục được nhân tâm và thực hiện công tác vận động tôn giáo thành công trên địa bàn miền Trung – Tây Nguyên nói riêng, cả nước nói chung trong điều kiện phát triển mới của đất nước.

                                                                       PGS, TS Đoàn Triệu Long

     


    [1]. Hiện nay, có 16 tôn giáo được Nhà nước Việt Nam công nhận: Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao đài, Phật giáo Hòa hảo, Hồi giáo, Tôn giáo Baha'i, Tịnh độ Cư sỹ Phật hội Việt Nam, Đạo Tứ ân Hiếu nghĩa, Bửu Sơn Kỳ Hương, Minh Sư đạo, Minh lý đạo - Tam Tông Miếu, Bàlamôn giáo, Giáo hội các Thánh hữu Ngày sau của Chúa Giê-su Ky-tô (Mặc Môn), Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn, Cơ đốc Phục lâm Việt Nam.    

    [2]. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.233.

    [3]. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.232.

    [4]. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.233.

    [5]. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.233.

    [6]. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.234.

    [7]. Đảng Cộng sản Việt Nam,  Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng; Hà Nội, 2016, tr.158.

    • Năm phát hành
    • Đang truy cập:18
    • Hôm nay: 160
    • Tháng hiện tại: 26200
    • Tổng lượt truy cập: 417374
    Địa chỉ: Số 232 Nguyễn Công Trứ, Tp. Đà Nẵng
    Liên hệ: 02363.831.174
    Fax: 02363.844.611