“ĐỐI LẬP” GIỮA QUAN ĐIỂM CỦA V.I.LÊNIN VỚI QUAN ĐIỂM C.MÁC, PH.ĂNGGHEN VỀ CÁCH MẠNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA LÀ SAI TRÁI

    31/05/2021 07:48 AM


    “ĐỐI LẬP” GIỮA QUAN ĐIỂM CỦA V.I.LÊNIN VỚI  QUAN ĐIỂM C.MÁC, PH.ĂNGGHEN VỀ CÁCH MẠNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA LÀ SAI TRÁI

     

    Từ trước đến nay, các thế lực thù địch chống chủ nghĩa cộng sản luôn tìm và bằng mọi cách xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin với tư cách là một hệ thống. Trong hàng đống sách, báo, tài liệu chống phá, dễ dàng nhận thấy người ta trương lên và tung hê cái gọi là: quan điểm của Lênin về cách mạng xã hội chủ nghĩa hoàn toàn “đối lập” với Mác và Ănghen. Họ dẫn chứng và lập luận rằng: khi nói về cách mạng, Mác và Ăngghen nhận định cách mạng vô sản trước tiên sẽ nổ ra và giành thắng lợi đồng thời ở tất cả các nước trên thế giới, chí ít là ở những nước tư bản phát triển nhất. Ngược lại, Lênin lại cho rằng, cách mạng vô sản sẽ nổ ra và giành thắng lợi trước tiên ở một số ít nước, thậm chí ở một nước riêng lẻ, còn lạc hậu, còn nhiều tàn tích của chế độ nông nô như nước Nga[1]. Từ đó họ kết luận, như vậy là Lênin “đối lập” hoàn toàn với Mác và Ăngghen, thì không thể gọi là chủ nghĩa Mác - Lênin. Đó chỉ là sự gán ghép của những người cộng sản mà thôi… Vậy, sự thật có phải như vậy không?

    1. Trước hết, nhận định trên đây về sự “đối lập” quan điểm của Lênin với quan điểm Mác và Ăngghen về khả năng nổ ra và thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa là hoàn toàn không đúng cả về lý luận lẫn thực tiễn. Đây là quan điểm sai trái, thù địch nhằm xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin là một chỉnh thể thống nhất.

    Vào giữa thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản đã thực sự phát triển định hình ở giai đoạn tự do cạnh tranh, mâu thuẫn giai cấp, mâu thuẫn xã hội thực sự gay gắt tạo điều kiện cho một cuộc cách mạng xã hội đang đến gần. Trong điều kiện đó, khi được hỏi liệu cuộc cách mạng vô sản có thể xảy ra trong riêng một nước nào đó không? Trong tác phẩm Những nguyên lý của chủ nghĩa công sản, Ăngghen trả lời: “Không. Đại công nghiệp do đã tạo nên thị trường thế giới nên đã nối liền tất cả các dân tộc trên trái đất lại với nhau, nhất là các dân tộc văn minh, khiến cho mỗi một dân tộc đều phụ thuộc vào tình hình xảy ra ở dân tộc khác. Sau nữa, đại công nghiệp đã san bằng sự phát triển xã hội ở trong tất cả các nước văn minh, khiến cho ở khắp nơi, giai cấp tư sản và giai cấp vô sản đã trở thành hai giai cấp có tác dụng quyết định trong xã hội và cuộc đấu tranh giữa hai giai cấp đó đã trở thành cuộc đấu tranh chủ yếu của thời đại chúng ta. Vì vậy, cuộc cách mạng cộng sản chủ nghĩa không những sẽ có tính chất dân tộc mà sẽ đồng thời xảy ra ở trong tất cả các nước văn minh, tức là ít nhất, ở Anh, Mỹ, Pháp và Đức. Trong mỗi một nước đó, cách mạng cộng sản chủ nghĩa sẽ phát triển nhanh hay chậm, là tùy ở chỗ nước nào trong những nước đó có công nghiệp phát triển hơn, tích lũy được nhiều của cải hơn và có nhiều lực lượng sản xuất hơn. Cho nên ở Đức, cách mạng cộng sản chủ nghĩa sẽ thực hiện chậm hơn và khó khăn hơn, còn ở Anh thì nhanh hơn và dễ dàng hơn. Cách mạng cộng sản chủ nghĩa cũng có ảnh hưởng rất lớn đến các nước khác trên thế giới, nó sẽ làm thay đổi hoàn toàn và thúc đẩy cực kỳ nhanh chóng tiến trình phát triển trước kia của các nước đó. Nó là một cuộc cách mạng có tính chất toàn thế giới và vì vậy nó sẽ có một vũ đài toàn thế giới”[2].

    Ở đây, Ăngghen đã vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử, đặc biệt là quy luật về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất vào phân tích hiện trạng của chế độ tư bản chủ nghĩa. Lực lượng sản xuất phát triển và đạt trình độ xã hội hóa cao, mâu thuẫn ngày càng gay gắt với quan hệ sản xuất dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, biểu hiện về mặt xã hội là mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản không thể điều hòa. Hơn nữa, trung tâm cách mạng của thế giới lúc này lại ở phương Tây, cụ thể là ở những nước tư bản phát triển như Anh, Pháp, Mỹ, Đức, mà tiêu biểu là Phong trào Hiến chương ở nước Anh (1838 - 1848), Phong trào công nhân dệt ở thành phố Xilêdi, nước Đức năm 1844, Phong trào công nhân dệt ở thành phố Liông, nước Pháp (1831 - 1834).

    Trong điều kiện cách mạng ở những nước tư bản đều phát triển như vậy, việc Ăngghen đưa ra nhận định cách mạng vô sản chỉ có thể xảy ra trước hết ở những nước tư bản phát triển, chứ không thể xảy ra ở nơi nào khác trên thế giới là hoàn toàn đúng cả về lý luận và thực tiễn. Hơn nữa, như Ăngghen nhận định ở trên thì cần phải hiểu rằng, cách mạng xã hội chủ nghĩa là một quá trình lịch sử, thì đương nhiên cách mạng vô sản có thể xảy ra cùng một lúc ở tất cả các nước văn minh; nhưng xảy ra và giành thắng lợi không phải là cùng một khái niệm hay nói cách khác nó khác nhau về cấp độ. Có nghĩa là, cách mạng xã hội chủ nghĩa có thể nổ ra cùng lúc ở các nước văn minh, nhưng để thắng lợi thì lại khác nhau, có thể có nước cách mạng thắng lợi trước, có nước cách mạng sẽ thắng lợi muộn hơn tùy thuộc vào điều kiện, thời cơ cách mạng.

    Ngoài ra, khi nói về thắng lợi của cách mạng, tức là khi đã giành được chính quyền, thì Ăngghen nói có nước chậm hơn và khó khăn hơn, có nước nhanh hơn và dễ dàng hơn. Nhanh hay chậm, khó hay dễ, do mức độ phát triển của công nghiệp quyết định. Cho nên, Ăngghen nói cách mạng cộng sản chủ nghĩa sẽ thực hiện ở Anh nhanh hơn và dễ hơn, ở Đức sẽ chậm hơn và khó hơn. Bởi vì thời kỳ này nước Anh là nước có nền công nghiệp phát triển nhất thế giới, nước Đức giai cấp tư sản mới xác lập được địa vị thống trị, nên công nghiệp phát triển chậm hơn. Như vậy, cái mà Ăngghen nhấn mạnh là: Một là, cách mạng xã hội chủ nghĩa là một sự nghiệp quốc tế, nó không chỉ xảy ra ở một nước nào đó. Bởi vì, tư bản là một lực lượng quốc tế, nó gây ra mâu thuẫn giống nhau ở các nước tư bản phát triển, đưa đến cách mạng có cùng tính chất. Hai là, do nền công nghiệp của các nước phát triển không đều, do đó, thực hiện (thắng lợi) cách mạng ở các nước sẽ có nước nhanh nước chậm, nước khó nước dễ. Vì vậy, không thể từ nhận định trên của Ăngghen mà rút ra kết luận cho rằng cách mạng xã hội chủ nghĩa có thể giành thắng lợi cùng một lúc ở tất cả các nước tư bản phát triển được.

    Ngoài ra, có ý kiến cho rằng, năm 1847 Ăngghen dự báo cách mạng vô sản nổ ra và giành thắng lợi trước hết ở những nước tư bản chủ nghĩa phát triển, nhưng thực tế đến nay đã hơn 170 năm nhưng chưa có một cuộc cách mạng vô sản nào nổ ra và giành thắng lợi ở các nước tư bản phát triển, như vậy là dự báo của Ăngghen đã sai (?). Không phải Ăngghen sai, mà ý kiến trên đây đã hiểu sai về chủ nghĩa Mác.  Về mặt lý luận và thực tiễn lịch sử như đã phân tích ở trên, thì việc Ăngghen đưa ra dự báo này là hoàn toàn đúng. Chỉ có điều, trong tình thế cách mạng thời điểm đó Ăngghen chưa dự báo khả năng thích ứng và tự điều chỉnh của chủ nghĩa tư bản. Chính điều này về sau Ph.Ăngghen đã thừa nhận: “Lịch sử đã chứng minh rằng chúng tôi cũng đã phạm sai lầm, lịch sử đã vạch ra rằng quan điểm của chúng tôi lúc bấy giờ là một ảo tưởng. Lịch sử lại còn đi xa hơn thế nữa: lịch sử không những đã đánh tan sai lầm hồi bấy giờ của chúng tôi mà còn hoàn toàn đảo lộn những điều kiện trong đó giai cấp vô sản đang phải chiến đấu. Ngày nay, phương pháp đấu tranh thời kỳ 1848 đã bị lỗi thời về mọi phương diện, và đó là một điểm đáng được nghiên cứu tỉ mĩ hơn nữa”[3]. Và “Lịch sử đã chứng minh rằng chúng tôi và tất cả những ai nghĩ giống như chúng tôi đều sai lầm. Lịch sử đã chỉ rõ rằng trạng thái phát triển kinh tế trên lục địa lúc bấy giờ còn lâu mới chín muồi để xóa bỏ phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa”[4].

    Ở đây cần lưu ý, sự điều chỉnh những nhận định của Ph.Ăngghen chỉ là điều chỉnh những vấn đề cụ thể về dự báo khả năng, thời điểm và các vùng không gian bùng nổ cách mạng vô sản nhằm xó bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa. Những kiến giải điều chỉnh đó không hề có tính chất từ bỏ những quan điểm và nguyên tắc cũng như lập trường kiên định cách mạng của ông. Và vì vậy, sự điều chỉnh của các nước tư bản phát triển chỉ đến một hạn độ nhất định, theo quy luật nó phải được thay thế bởi chủ nghĩa cộng sản. Nếu lịch sử cần có một độ dài thời gian cho sự chín muồi cách mạng thì điều đó không có nghĩa là những nguyên lý về tính tất yếu của cách mạng trở nên mất giá trị. Lịch sử chỉ không xác nhận những dự báo mà xét ra chưa đủ cứ liệu thực tế, chứ lịch sử không bác bỏ cái xu hướng, khuynh hướng phát triển tất yếu của bản thân nó. Vì thế dự báo đó của Ăngghen là hoàn toàn đúng.

    Về sự “đối lập” giữa Lênin với Mác và Ăngghen là hoàn toàn không đúng, mà trái lại, Lênin đã vận dụng trung thành, sáng tạo chủ nghĩa Mác trong điều kiện mới của cách mạng. Thời đại của Lênin khác với thời đại của Mác và Ăngghen. Đó là đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX tình hình cách mạng đã thay đổi đi rất nhiều, chủ nghĩa tư bản đã bước sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, và đặc điểm lớn nhất của nó là kinh tế và chính trị phát triển không đều, nên cách mạng vô sản có thể nổ ra và giành thắng lợi ở đâu trở thành mắt xích yếu nhất trong hệ thống các nước tư bản chủ nghĩa. Hơn nữa, trung tâm cách mạng của thế giới lúc này đã dịch chuyển từ phương Tây sang phương Đông, nước Nga lúc này trở thành trung tâm của cách mạng thế giới, trở thành mắt xích yếu nhất trong hệ thống các nước tư bản. Cùng với đó, giai cấp công nhân Nga lúc này đã trở thành một lực lượng chính trị độc lập, thực sự trưởng thành và giác ngộ được cách mạng. Trong điều kiện đó, năm 1915 trong bài viết Bàn về khẩu hiệu liên bang châu Âu, Lênin chỉ rõ, “Sự phát triển không đồng đều về kinh tế và chính trị là quy luật tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản. Do đó, chúng ta thấy rằng chủ nghĩa xã hội có thể thắng trước hết là trong một số ít nước tư bản chủ nghĩa hoặc thậm chí chỉ trong một nước tư bản chủ nghĩa, tách riêng ra mà nói. Giai cấp vô sản chiến thắng của nước đó, sau khi đã tước đoạt bọn tư bản và đã tổ chức nền sản xuất xã hội chủ nghĩa trong nước mình, sẽ đứng lên chống lại cái phần thế giới tư bản chủ nghĩa còn lại, lôi cuốn những giai cấp bị áp bức ở các nước khác theo mình, thúc đẩy họ nổi dậy chống bọn tư bản, sử dụng khi cần, ngay cả lực lượng quân sự, để chống lại các giai cấp bóc lột và nhà nước của chúng”[5].

    Như vậy, Lênin đã vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác trong điều kiện mới. Trong bài viết Cương lĩnh quân sự của cách mạng vô sản, Lênin đã trích dẫn và phân tích tư tưởng của Ăngghen về cách mạng xã hội chủ nghĩa không thể giành thắng lợi cùng một lúc ở tất cả các nước, mà sẽ giành thắng lợi trước tiên ở một nước hoặc một số ít nước, do vậy những nước giành thắng lợi trước tiên đó phải chuẩn bị cuộc chiến đấu tự vệ để bảo vệ thành quả cách mạng. Lênin viết: “Ăngghen, trong thư viết cho Cauxky ngày 12 tháng Chín 1882, đã hoàn toàn có lý khi ông thừa nhận thẳng rằng có thể có “những cuộc chiến tranh tự vệ” của chủ nghĩa xã hội đã thắng lợi. Ăngghen muốn nói đến chính sự tự vệ của giai cấp vô sản đã chiến thắng chống giai cấp tư sản các nước khác”[6].

    Khi phê phán P.Kiépxki cho rằng cách mạng xã hội chủ nghĩa là “hành động thống nhất của những người vô sản tất cả các nước nhằm phá bỏ biên giới quốc gia tư sản, nhổ bật những cột mốc biên giới”, Lênin lại một lẫn nữa nói rõ rằng, cách mạng xã hội chủ nghĩa không thể là hành động thống nhất của những người vô sản ở tất cả các nước. Lý do rất đơn giản là đa số các nước và đa số dân cư trên trái đất này cho tới nay vẫn chưa ở vào ngay cả giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa hay chỉ mới bắt đầu giai đoạn đó. Để phê phán  P.Kiépxki đã “xuyên tạc biếm họa chủ nghĩa Mác”, Lênin lại dẫn ra bức thư của Ăngghen gửi cho Cauxky để chứng minh. Trong đó, Ăngghen viết: “Giai cấp vô sản chiến thắng không thể áp đặt cho bất của một dân tộc nào khác bất kỳ một diễm phúc nào mà lại không phá hoại thắng lợi của chính mình bằng cách đó. Dĩ nhiên, điều đó tuyệt nhiên không loại trừ những cuộc chiến tranh phòng thủ đủ loại”[7].

    Tại Đại hội III toàn Nga các Xô viết đại biểu công nhân, binh sĩ và nông dân năm 1918, Lênin lại dẫn một bức thư khác của Ăngghen để chứng minh cách mạng xã hội chủ nghĩa giành được thắng lợi trước tiên ở nước Nga là không mâu thuẫn với lý luận của chủ nghĩa Mác. Lênin nói, cuối thế kỷ XIX, Ănghen từng nói về cách mạng xã hội chủ nghĩa là ““người Pháp sẽ bắt đầu và người Đức sẽ hoàn thành”, - người Pháp sẽ  bắt  đầu vì trong quá trình hàng chục năm cách mạng họ đã từ trong hoạt động cách mạng rèn luyện được cho mình tinh thần sáng tạo và hy sinh quên mình, làm cho họ thành đội tiên phong của cách mạng xã hội chủ nghĩa…Những sự biến đã diễn biến khác với dự kiến của Mác và Ăngghen; những sự biến ấy đã trao cho chúng ta, những giai cấp cần lao và bị bóc lột ở  Nga, vai trò vinh dự làm đội tiên phong của phong trào cách mạng xã hội chủ nghĩa quốc tế, và ngày nay chúng ta nhìn thấy rõ ràng triển vọng của sự  phát triển của cách mạng; người Nga đã bắt đầu, người Đức, người Pháp, người Anh sẽ  hoàn thành, và chủ  nghĩa xã hội sẽ toàn thắng”[8]. Ở đây cho thấy rằng, ngoài việc phân tích cách mạng xã hội chủ nghĩa có thể giành thắng lợi ở nước nào đó, thì những phân tích của Lênin về cách mạng xã hội chủ nghĩa có thể giành thắng lợi trước tiên ở một nước hoặc ở một số ít nước rất giống với quan điểm của Mác và Ăngghen. Chỉ có khác một điều, nếu như Mác và Ăngghen tiên đoán rằng, cách mạng xã hội chủ nghĩa sẽ giành thắng lợi trước tiên ở các nước công nghiệp phát triển như Anh, Mỹ, Pháp, Đức, thì Lênin cho rằng cách mạng xã hội chủ nghĩa có thể giành thắng lợi trước tiên ở nước Nga có nền kinh tế lạc hậu. Đây là sự vận dụng sáng tạo và phát triển của Lênin và đã được lịch sử kiểm nghiệm là hoàn toàn đúng.

    2. Vậy thực chất của quan điểm cách mạng xã hội chủ nghĩa “giành thắng lợi cùng một lúc” là của ai? Lý luận cho rằng cách mạng xã hội chủ nghĩa không thể giành được thắng lợi ở một nước hoặc ở một số ít nước, mà chỉ có thể giành thắng lợi cùng một lúc tại tất cả các nước tư bản tiên tiến là lý luận của “phái giữa” trong Quốc tế II do Cauxky cầm đầu[9]. Đó là lý luận tùy tiện xuyên tạc ý kiến của Mác và Ăngghen. Quan điểm này của Cauxky gắn với “thuyết chủ nghĩa siêu đế quốc” của ông ta. Năm 1915, trong bài viết Quốc gia dân tộc, quốc gia đế quốc và liên minh quốc gia, Cauxky viết: “Cách tốt nhất và có tiền đồ nhất trong việc mở rộng thị trường trong nước không phải là phát triển một quốc gia dân tộc, mà là liên hợp các quốc gia có quyền lợi ngang nhau thành liên minh quốc gia; đế quốc lớn này là cái cần thiết để chủ nghĩa tư bản đạt tới hình thái cuối cùng, hình thái cao nhất, và giai cấp vô sản sẽ giành quyền lực ở hình thái cuối cùng, cao nhất này”[10]. Điều đó có nghĩa là, Cauxky cho rằng sự phát triển của chủ nghĩa tư bản còn trải qua một giai đoạn từ một nước tư bản liên minh thành liên minh các quốc gia, tức là giai đoạn “chủ nghĩa siêu đế quốc”. Chỉ đến giai đoạn này thì mới có tình thế để “phát động cùng một lúc ở các nước” trong cái “liên minh quốc gia” này một cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, mới bảo đảm được thắng lợi của giai cấp vô sản. Quan điểm này về sau được trình bày rõ trong “Nghị quyết về liên minh quốc tế” do Quốc tế Bécnơ[11] đưa ra: “Liên hợp nhân dân các nước thành một xã hội thống nhất - đó là một lý tưởng cực kỳ quan trọng lâu nay của các nước xã hội chủ nghĩa. Lý tưởng này bắt nguồn từ tình đoàn kết giữa giai cấp vô sản của các nước và từ mục tiêu cuối cùng của chủ nghĩa xã hội, vì mục tiêu này chỉ có thể thực hiện trong phạm vi toàn thế giới chứ không thể thực hiện trong phạm vi một nước”[12].

    Trên thực tế, từ năm 1914 trong Đảng dân chủ - xã hội Nga có cuộc tranh luận về khẩu hiệu “Liên bang châu Âu”. Về thực chất, đây là cuộc tranh luận chống Cauxky. Trong cuộc đấu tranh này, Tơrốtxki, Bukharin đi theo quan điểm của Cauxky. Họ kịch liệt chống lại quan điểm của Lênin cho rằng cách mạng xã hội chủ nghĩa có thể giành thắng lợi trước tiên ở một nước hoặc một số ít nước, họ đi theo quan điểm “thắng lợi cùng một lúc” của Cauxky. Năm 1915, trong một bức thư trả lời Lênin, Tơrốtxki viết: “Nhưng hiện nay, sau khi có nhiều hy vọng vào một sự mở đầu của cách mạng Nga thì chúng ta có đủ lý do để hy vọng trong thời kỳ chiến tranh này phong trào cách mạng lớn mạnh sẽ bùng lên trên toàn châu Âu. Rất rõ ràng rằng, nó chỉ có thể phát triển thuận lợi và đi tới thắng lợi với tư cách là phong trào cách mạng của toàn châu Âu. Nếu vẫn chỉ là phong trào đơn độc trong phạm vi một dân tộc thì nó sẽ bị dập tắt… chỉ có thể nghĩ tới thiết lập nền chuyên chính vô sản vững chắc trên phạm vi toàn châu Âu, tức là trên phạm vi Liên bang cộng hòa châu Âu… Liên bang châu Âu là khẩu hiệu của thời đại cách mạng mà chúng ta vươn tới. Bất kể tiến trình của các hoạt động quân sự từ nay về sau diễn ra như thế nào, bất kể cuộc chiến tranh hiện nay được phía ngoại giao tổng kết như thế nào, bất kể thời kỳ gần đây phong trào cách mạng phát triển ra sao, trong mọi trường hợp khẩu hiệu Liên bang châu Âu là công thức chính trị có ý nghĩa to lớn đối với cuộc đấu tranh giành chính quyền của giai cấp vô sản”[13].

    Trong Đảng dân chủ - xã hội Nga, Bukharin là người đứng hẳn về phía Tơrốtxki.  Tại Hội nghị đại biểu các chi bộ hải ngoại của Đảng dân chủ - xã hội Nga năm 1915, họ cùng nhau đưa ra “Đề cương nhiệm vụ và sách lược của giai cấp vô sản”. Trong đề cương này, họ đứng về phía tả để phản đối cương lĩnh tối thiểu của Đảng, tức là phản đối đấu tranh đòi cải cách và quyền dân chủ, cho rằng phải chuyển trọng tâm đấu tranh của giai cấp vô sản từ chỗ đấu tranh đòi quyền dân chủ sang đấu tranh để thực hiện chủ nghĩa xã hội, cho rằng khẩu hiệu “Liên bang châu Âu” là khẩu hiệu tốt nhất để thực hiện yêu cầu xã hội chủ nghĩa. Bukharin viết: “Để chống lại cái liên minh đế quốc mà các nước lập ra ở trên, giai cấp vô sản phải đưa ra khẩu hiệu kêu gọi các nước xã hội chủ nghĩa thực hiện liên minh xã hội chủ nghĩa ở bên dưới, tức là Liên bang châu Âu xã hội chủ nghĩa theo chế độ cộng hòa để làm hình thức thể hiện những biến đổi theo hướng xã hội chủ nghĩa về chính trị và pháp luật”[14].

    Phê phán quan điểm của Cauxky và đồng bọn, năm 1918, tại Đại hội III toàn Nga các Xô viết đại biểu công nhân, binh sĩ và nông dân, Lênin nói: “Khi người ta nói với chúng ta rằng chủ nghĩa xã hội chỉ có thể thắng lợi trên phạm vi thế giới, thì chúng ta chỉ thấy đó là một mưu toan tuyệt vọng của giai cấp tư sản và của những kẻ cố ý hay vô tình ủng hộ giai cấp đó, nhằm bóp méo sự thật hiển nhiên nhất. Cố nhiên, thắng lợi cuối cùng của chủ nghĩa xã hội không thể có được ở trong độc một nước”[15]. Trong bài viết Quốc tế III và địa vị của nó trong lịch sử, Lênin tiếp tục phê phán sự sai lầm của quan điểm này về mặt thế giới quan và phương pháp luận, “Nếu chúng ta hỏi bất cứ một người mác-xít nào, thậm chí bất cứ một người nào am hiểu khoa học hiện đại rằng: “Liệu các nước tư bản có thể chuyển một cách đều đặn, nhịp nhàng và cân đối sang chế độ chuyên chính vô sản được không?”, thì chắc chắn họ sẽ trả lời rằng không. Trong thế giới tư bản không bao giờ có và không thể có sự phát triển đều đặn, nhịp nhàng và cân đối được. Mỗi nước, khi phát triển, đều làm nổi bật lên một mặt nào đó, một đặc điểm nào đó hay một số những đặc điểm nào đó của chủ nghĩa tư bản và của phong trào công nhân. Quá trình phát triển đã diễn ra một cách không đều”[16].

    Như vậy, từ những dẫn chứng và phân tích trên cho thấy, cả Mác và Ăngghen chưa bao giờ nói cách mạng xã hội chủ nghĩa phải giành thắng lợi cùng một lúc ở tất cả các nước tư bản chủ nghĩa. Đó chỉ là sự xuyên tạc của bọn cơ hội chủ nghĩa nhằm chống lại chủ nghĩa Mác. Còn lý luận của Lênin về cách mạng xã hội chủ nghĩa có thể giành thắng lợi trước tiên ở một nước hoặc một số ít nước được đưa ra trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội của Cauxky, Tơrốtxki, Bukharin mưu toan dùng mánh khóe che mờ giai cấp vô sản các nước, nhằm đẩy lùi cách mạng xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, quan điểm của Lênin không “đối lập”  với quan điểm của Mác và Ăngghen, trái lại là rất trung thành, bảo vệ, vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác trong điều kiện mới. Đó mới là thực chất quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về điều kiện và tiền đề của cách mạng xã hội chủ nghĩa.

    TS Phạm Văn Giang

     


    [1]. Xem thêm https://www.tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/phe-phan-mot-so-quan-diem-xuyen-tac-phu-nhan-chu-nghia-mac-le-nin

    [2]. C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.472.

    [3]. C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 22, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997, tr.758.

    [4]. C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 22, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997, tr.761.

    [5]. V.I.Lênin, Toàn tập, tập 26, Nxb Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1980, tr.447.

    [6]. V.I.Lênin, Toàn tập, tập 30, Nxb Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1981, tr.173.

    [7]. C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 35, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr.470.

    [8]. V.I.Lênin, Toàn tập, tập 35, Nxb Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1978, tr.336-337.

    [9]. Cauxky (1854 - 1938), nhà sử học và kinh tế học người Đức, một trong những thủ lỉnh và nhà lý luận của phái dân chủ - xã hội Đức và của Quốc tế II, nhà tư tưởng của chủ nghĩa phái giữa. Lúc đầu, Cauxky chịu ảnh hưởng tư tưởng của Latxan, chủ nghĩa vô chính phủ và triết học thực chứng. Từ cuối những năm 1870, Cauxky tích cực tham gia báo chí dân chủ - xã hội, gần gủi với chủ nghĩa Mác, đặc biệt là sau khi làm quan với Mác và Ănghen năm 1881, Cauxky đã viết một số tác phẩm tuyên truyền tư tưởng của chủ nghĩa Mác. Nhưng ngay trong những năm đó, Cauxky đã phạm những sai lầm cơ hội chủ nghĩa và xuyên tạc chủ nghĩa Mác, và vì vậy bị Ănghen phê phán. Năm 1910, Cauxky thành lập phái “giữa” trong Đảng dân chủ - xã hội Đức và từ đó công khai chống lại chủ nghĩa Mác cách mạng, phủ nhận tính đảng triết học mác-xít.

    [10]. Dẫn theo Lịch sử chủ nghĩa Mác, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr.943.

    [11]. Quốc tế Bécnơ do các thủ lĩnh phái giữa thiên hữu của Quốc tế II thành lập năm 1919, lúc tổ chức này bắt đầu phân liệt gồm các Đảng dân chủ - xã hội Áo, Anh, Đức, Italia, Pháp… dẫn tới thành lập “Quốc tế II 1/2”.

    [12]. Dẫn theo Lịch sử chủ nghĩa Mác, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr.943-944.

    [13]. Dẫn theo Lịch sử chủ nghĩa Mác, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr.945.

    [14]. Dẫn theo Lịch sử chủ nghĩa Mác, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr.945.

    [15]. V.I.Lênin, Toàn tập, tập 35, Nxb Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1978, tr.334.

    [16]. V.I.Lênin, Toàn tập, tập 38, Nxb Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1977, tr.365.

    • Năm phát hành
    • Đang truy cập:31
    • Hôm nay: 2990
    • Tháng hiện tại: 40780
    • Tổng lượt truy cập: 399343
    Địa chỉ: Số 232 Nguyễn Công Trứ, Tp. Đà Nẵng
    Liên hệ: 02363.831.174
    Fax: 02363.844.611