PHÊ PHÁN CÁC QUAN ĐIỂM SAI LẦM ĐÒI THAY ĐỔI CHẾ ĐỘ SỞ HỮU ĐẤT ĐAI Ở VIỆT NAM

    14/12/2020 09:21 AM


     

    PGS,TS TRẦN THỊ MINH CHÂU

    Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

    TS VÕ VĂN LỢI

    Học viện Chính trị khu vực III

     

    Trong các diễn đàn góp ý sửa đổi Luật Đất đai hiện nay đã xuất hiện một số quan điểm cho rằng khi dân trí còn thiên về tư hữu, động lực phát triển kinh tế vẫn phải dựa vào lợi ích cho cá thể thì việc thừa nhận sở hữu tư nhân là tất yếu1. Một số ý kiến khác cho rằng cần thừa nhận chế độ đa sở hữu sẽ cởi trói được nhiều vấn đề, đặc biệt là sẽ giảm việc khiếu kiện, tố cáo liên quan đến những sai phạm về đất đai như hiện nay2. Đặc biệt, qua vụ việc Đồng Tâm gần đây, một số ý kiến cho rằng sở hữu toàn dân là “mù mờ”, là sự chiếm đoạt hoàn toàn quyền sở hữu của nhân dân trên đất đai3. Cũng có ý kiến cho rằng, với các quyền của người sử dụng đất đai ở Việt Nam hiện nay, quyền sử dụng đất chẳng khác gì quyền sở hữu tư nhân đất đai. Bài viết này sẽ góp phần làm rõ bản chất, tính chất về sở hữu đất đai ở nước ta đồng thời phê phán một số quan điểm sai lầm nêu trên.

    Thứ nhất, chế độ sở hữu tư nhân về đất đai mang lại nhiều hệ lụy không phù hợp với Việt Nam

    Một là, sở hữu tư nhân về đất đai trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường sẽ dẫn đến tình trạng phân hóa giàu nghèo gay gắt khiến có người sở hữu quá nhiều đất, người không có tấc đất cắm dùi, nhất là tình trạng đầu cơ đất nông nghiệp của người giàu nhằm bảo vệ tài sản của họ một cách bền vững. Đặc biệt, những người giàu sở hữu nhiều đất và không trực tiếp canh tác sẽ quản lý đất đai bằng chế độ phát canh thu tô, phục hồi quan hệ sản xuất phong kiến. Trong điều kiện một lực lượng lao động lớn còn sống bằng nghề nông thì việc tích tụ đất vào tay một số người sẽ khiến số đông người dân còn lại, hoặc là phải làm thuê, cuốc mướn, hoặc là trở thành người vô gia cư, nghèo đói sống trong các khu ổ chuột ở thành thị. Chế độ sở hữu gì cũng phải hướng vào mục đích tạo nguồn mưu sinh cho người dân và ổn định xã hội. Không thể hy sinh lợi ích của số đông người dân chỉ để có một chế độ sở hữu như các nước khác. Một số người không đồng ý với lập luận này và dẫn chứng thực tế phát triển nông nghiệp ở Pháp, Mỹ không dẫn đến phân hóa giàu nghèo ở nông thôn. Họ cố tình không hiểu rằng lịch sử ruộng đất mỗi nước không giống nhau, các nước này đã hoàn thành quá trình công nghiệp hóa, thời kỳ đẩy người dân ra khỏi nông nghiệp để tích tụ đất vào tay một số ít hộ làm nông nghiệp như hiện nay đã trở thành quá khứ xa xưa ở các nước Anh, Pháp. Hơn nữa, các nhà nước tư bản Anh, Pháp, Mỹ hiện vẫn phải hỗ trợ thu nhập cho nông dân để hộ nông dân có thu nhập ngang mức trung bình của xã hội nhằm khuyến khích họ trực canh đất nông nghiệp vừa đảm bảo an ninh lương thực, vừa không quay trở lại quan hệ sản xuất phong kiến.

    Trong khi đó, Việt Nam mới ra khỏi chiến tranh, công cuộc đổi mới phát triển đất nước đang ở bước đầu, chưa hoàn thành quá trình công nghiệp hóa, dân cư phần lớn ở nông thôn sống bằng nghề nông nghiệp. Vậy nên thừa nhận sở hữu tư nhân sẽ dẫn đến khó khăn cho quy hoạch chỉnh trang đô thị, hiện đại hóa nông nghiệp, phát triển nông thôn,… chưa kể sẽ phân hóa giàu nghèo ở nông thôn diễn ra khốc liệt hơn, là yếu tố gây mất ổn định xã hội. Trong khi tuyên bố chế độ sở hữu toàn dân về đất đai và luật cũng quy định việc trao cho người sử dụng đất quyền sử dụng và hưởng lợi từ tài sản quyền sử dụng đất không khác quyền sử dụng của chủ sở hữu là bao. Mặc dù còn hạn chế về thời hạn giao đất, quy mô giao đất và không được chuyển đổi mục đích sử dụng đất thì cũng không ảnh hưởng lớn đối với người sử dụng đất so với chủ sở hữu tư nhân.

    Hai là, nếu sở hữu tư nhân về đất đai sẽ làm xáo trộn quan hệ sở hữu, sử dụng đất đai hiện tại mà không đem lại lợi ích gì cho người sử dụng đất cũng như quốc gia. Lịch sử quan hệ đất đai ở Việt Nam rất phức tạp. Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đa phần diện tích đất nông nghiệp thuộc sở hữu của địa chủ, tư bản. Sau cải cách ruộng đất, đa phần đất nông nghiệp được chia cho nông dân. Phong trào hợp tác hóa đã đưa hầu hết diện tích đất nông nghiệp thành sở hữu chung của xã viên hợp tác xã. Quá trình giao đất theo Nghị quyết số 10 (khoán 10) của Bộ Chính trị năm 1988 đưa trở lại quyền sử dụng đất theo cơ chế khoán hộ cho nông dân theo chế độ bình quân. Bây giờ, nếu thừa nhận sở hữu tư nhân về ruộng đất sẽ phục hồi lại các vụ kiện tụng về quyền sở hữu của họ do chính Nhà nước Việt Nam thừa nhận trước khi vào hợp tác xã. Những rắc rối pháp lý này sẽ khiến quan hệ đất đai trở nên rối loạn, nguồn lực đất đai, nguồn lực quan trọng nhất của Việt Nam lúc này, sẽ có thể không được phát huy phục vụ phát triển kinh tế. Hơn nữa, sở hữu tư nhân về đất đai sẽ dẫn đến tình trạng mâu thuẫn lợi ích giữa những người được giao đất và đương nhiên trở thành chủ sở hữu đất với những người không được giao đất và chẳng được gì, nhất là các khu đất vàng. Trong khi đó không chỉ những người được sử dụng đất hy sinh xương máu và của cải để giành độc lập, để bảo vệ lãnh thổ. Chỉ với việc Nhà nước thu hồi đất và đền bù cho người dân với giá rẻ, giao đất cho chủ đầu tư khu đô thị với giá rẻ, sau đó chủ đầu tư bán lại cho người tiêu dùng với giá cao đã gây không ít cuộc kiện tụng, khiếu kiện, tố cáo ở Việt Nam thời gian qua. Nếu bây giờ làm lại cuộc cải cách ruộng đất lần nữa, không biết xã hội sẽ rối loạn đến đâu, mâu thuẫn lợi ích sẽ đẩy mọi người vào tình trạng đối lập nhau như thế nào. Phải nhận thức đúng rằng đất đai gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước của bao thế hệ người Việt Nam và nhất là từ khi có Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo đất nước liên tục phát triển, nhân dân ngày càng no ấm, đầy đủ thì không có lý do gì, thế lực nào đòi phải sở hữu đất đai thế nầy, thế khác trái với luật định và nhân dân sẽ không bao giờ chấp nhận. Mặt khác, thực tiễn đã chứng minh bất kỳ một chế độ sở hữu đất đai ở nước nào cũng phải kế thừa và giải quyết các kết quả của quá trình phát triển lịch sử của nước đó. Không thể áp đặt chế độ sở hữu chung chung về mặt lý thuyết cho một nước cụ thể, càng không thể áp dụng máy móc kinh nghiệm của nước khác biệt về chế độ chính trị và trình độ phát triển vào Việt Nam.

    Thứ hai, quan điểm ủng hộ chế độ đa sở hữu về đất đai ở Việt Nam thực chất đây là quan điểm ủng hộ sở hữu tư nhân về đất đai.

    Vì đa sở hữu có nghĩa là sở hữu tư nhân, sở hữu của tập thể (pháp nhân, các tổ chức chính trị, xã hội, ngành nghề), sở hữu của cơ quan nhà nước (các cơ quan khác nhau trong bộ máy chính quyền các cấp). Trong các nước duy trì chế độ sở hữu tư nhân về đất đai, đa phần diện tích đất ở và đất kinh doanh thuộc sở hữu tư nhân. Các tổ chức chính trị, xã hội, ngành nghề có thể mua đất làm trụ sở hoặc kinh doanh tùy ý. Những diện tích đất do cơ quan nhà nước sử dụng và đất công (dùng chung như đường sá, công viên, rừng, hồ nước…) thuộc sở hữu của cơ quan nhà nước hoặc sở hữu quốc gia. Như vậy, đa phần diện tích đất kinh doanh, nhất là đất nông nghiệp thuộc sở hữu tư nhân. Vậy nên luận điệu này thực chất là đi đến ủng hộ sở hữu tư nhân về đất đai.

    Bên cạnh đó, thực tiễn cho thấy dù thuộc hình thức sở hữu nào thì Nhà nước luôn có quyền thu hồi đất bắt buộc trong những trường hợp cần thiết hay vì mục đích công cộng. Trong đó, rất nhiều trường hợp khó có thể phân định công - tư, nên việc lạm dụng trong thu hồi đất dẫn đến tranh chấp là rất phổ biến. Cụ thể ở các nước như Mỹ, Hàn Quốc, Đài Loan,  Indonesia, Philippines, Trung Quốc, Ai Cập, Ấn Độ… chính quyền đều đã mang xe ủi đi cưỡng chế giải tỏa đất đai cho mục tiêu phát triển kinh tế của mình. Điều đó cho thấy cái gốc của tranh chấp đất đai ở Việt Nam hiện nay cũng giống như nhiều nơi trên thế giới không nằm ở vấn đề sở hữu. Mà bản chất là do khó xác định mức đền bù thỏa đáng, các vấn đề liên quan đến cách thức triển khai và sự tham gia của người dân. Vì vậy, quan điểm cho rằng cần thừa nhận chế độ đa sở hữu sẽ làm giảm việc khiếu kiện, tố cáo liên quan đến những sai phạm về đất đai như hiện nay là không phản ánh đúng bản chất của vấn đề.

    Thứ ba, tính hợp lý của sở hữu toàn dân và quyền sử dụng đất đai của Việt Nam.

    Luận điệu phê phán sở hữu toàn dân về đất đai, cho rằng sở hữu toàn dân về đất đai không tìm được chủ sở hữu, rằng chế độ sở hữu toàn dân về đất đai của Việt Nam hiện nay thực chất là chế độ sở hữu tư nhân không hợp pháp. Sai lầm của quan điểm này là tính phi thực tiễn trong phê phán của họ thể hiện ở những lý sự sau đây:

    Một là, sở hữu toàn dân không tìm thấy chủ thể trong các quan hệ pháp lý về đất đai, là sự chiếm đoạt hoàn toàn quyền sở hữu của nhân dân trên đất đai. Những người này quên một điều rằng chế độ sở hữu thực tế, ở nước nào cũng thế, là do hệ thống pháp luật quy định, trong đó Luật Dân sự và Luật Đất đai có vai trò quan trọng xác định chế độ sở hữu đất đai. Luật Đất đai năm 2013 đã xác định rõ các căn cứ để phân định quyền hạn, lợi ích và trách nhiệm của người sử dụng đất (người được giao đất và người thuê đất), người đại diện chủ sở hữu toàn dân và người quản lý đất (cơ quan nhà nước các cấp). Cụ thể là:

    - Người sử dụng đất bao gồm: Tổ chức trong nước; hộ gia đình, cá nhân trong nước; cộng đồng dân cư; cơ sở tôn giáo; tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao; người Việt Nam định cư ở nước ngoài; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Luật cũng quy định rõ cá nhân nào là đại điện pháp lý trong các giao dịch đất đai của các chủ thể sử dụng đất nêu trên ở ngay Điều 7 và Điều 8.

    - Cơ quan nhà nước, cụ thể là Quốc hội, Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường, chính quyền địa phương ba cấp đã được Luật Đất đai phân định rõ ràng các quyền hạn và trách nhiệm với tư cách đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai (từ Điều 13 đến Điều 21 Luật Đất đai năm 2013).

    Vậy ý kiến không rõ chủ thể trong giao dịch đất đai quả là phi thực tế. Hơn nữa, trong xã hội hiện đại, các quyền của chủ sở hữu có thể phân chia cho nhiều thể nhân và pháp nhân khác nhau theo các quan hệ pháp lý khác nhau như cho thuê, ủy quyền quản lý, cho mượn,… Hầu hết các quan hệ tài sản này thuộc sự chế định của nhiều luật khác nhau có thể áp dụng vào quan hệ sở hữu đất đai. Do đó, khi có các xung đột và tranh chấp xảy ra, rõ ràng là có cơ sở pháp lý để giải quyết. Việc giải quyết trong thực tế không thấu tình, đạt lý hoặc thiên vị là vấn đề của hệ thống thực hành pháp luật, không thuộc chế độ sở hữu đất đai.

    Hai là, quan điểm cho rằng, với các quyền do Luật Đất đai 1993 và Luật Đất đai 2013 quy định, người sử dụng đất ở Việt Nam đã là người sở hữu tư nhân về đất đai. Sai lầm của luận điệu này là ở chỗ quy các quyền sở hữu đất đai với các quyền của người sử dụng đất. 

    Trong Luật Đất đai năm 2013 có sự phân chia quyền của chủ sở hữu giữa người sử dụng đất và các cơ quan nhà nước. Theo đó, Nhà nước có một số quyền căn bản của chủ sở hữu như giao, cho thuê, thu hồi quyền sử dụng đất, thu địa tô tuyệt đối (thuế sử dụng đất) và địa tô chênh lệch (thu tiền sử dụng đất khi chuyển mục đích sử dụng đất và thuế giá trị gia tăng từ đất không do người sử dụng đất tạo ra). Những quyền này phản ánh lợi ích của chủ sở hữu toàn dân, chủ sở hữu chung là xã hội, là quốc gia, không thể giao cho tư nhân. Đây là điểm khác biệt thứ nhất của chế độ sở hữu toàn dân so với chế độ sở hữu tư nhân.

    Đối với người sử dụng đất, mặc dù có nhiều quyền của chủ sở hữu trong lĩnh vực sử dụng đất như hưởng lợi ích từ sử dụng đất (kể cả địa tô chênh lệch do đầu tư vào đất) nhưng không có quyền đầy đủ của chủ sở hữu như chỉ được nhận đất do Nhà nước giao hoặc cho thuê, có nghĩa là không phải người chủ duy nhất của thửa đất. Điều này còn thể hiện rõ hơn trong trường hợp khi xã hội cần thửa đất đó cho mục đích khác hoặc giao cho người khác, người sử dụng đất buộc phải giao lại cho nhà nước mà không được quyền từ chối; người sử dụng đất (trừ đất ở) chỉ có quyền sử dụng trong thời hạn được Nhà nước giao. Quyền giao tiếp hay không thuộc về xã hội do cơ quan nhà nước đại diện quyết định; người sử dụng đất phải sử dụng đất đúng mục đích Nhà nước giao. Đây là điểm khác biệt thứ hai của chế độ sở hữu toàn dân so với chế độ sở hữu tư nhân.

    Những người phê phán chế độ sở hữu toàn dân nhấn vào điểm là sở hữu toàn dân về đất đai dẫn đến vô chủ và vì vô chủ nên đất được sử dụng không hiệu quả. Họ cũng lý giải rằng, luật đất đai, vì dựa trên lập trường sở hữu toàn dân nên không chính danh, không xác lập được quan hệ dân sự trong các giao dịch về đất đai nên dẫn đến các giao dịch đất đai của nước ta không giống với thông lệ quốc tế, gây tranh chấp khi có yếu tố nước ngoài. Ở đây khoan chưa bàn về việc có cho người nước ngoài tự do sở hữu đất đai, nhất là đất sản xuất hay không, nhưng người nước ngoài trên đất Việt Nam phải tuân thủ luật pháp Việt Nam có lẽ cũng là một thông lệ. Hơn nữa, các nước trên thế giới đâu có một luật đất đai giống nhau. Những người phê phán chế độ sở hữu toàn dân cũng lý sự rằng, Nhà nước ta không đủ năng lực quản lý đất đai. Chính chỗ này cần bàn và cần nỗ lực xây dựng một nhà nước có khả năng quản lý đất đai tốt hơn thì họ lại không muốn bàn, vì họ cho rằng, yếu kém của nhà nước trong quản lý đất đai với tư cách đại diện cho sở hữu toàn dân là đương nhiên.

    Tuy nhiên, để cơ quan nhà nước và cán bộ công chức làm tốt nhiệm vụ của mình thì cần cải cách, đổi mới cơ chế, bộ máy và cán bộ quản lý, không phải là thay đổi chế độ sở hữu đất đai. Tham nhũng trong đất đai cũng chẳng khác gì tham nhũng tiền bạc của nhà nước trong xử lý các quan hệ tài chính giữa cơ quan nhà nước và cá nhân, doanh nghiệp. Thực chất của những người đả phá sở hữu toàn dân về đất đai là muốn Nhà nước Việt Nam thu hẹp vai trò như một nhà nước tư bản trong đời sống kinh tế, loại trừ vai trò của nhà nước với tư cách cơ quan thay mặt xã hội và người lao động bảo vệ lợi ích chung của xã hội và lợi ích của số đông người trực tiếp sử dụng đất để phát triển kinh tế.

    Nhóm luận điệu ủng hộ đa dạng hóa sở hữu đất đai tưởng như có lý hơn khi lý giải hình thức sở hữu phù hợp với đặc điểm của các thửa đất sử dụng vì các mục đích khác nhau. Họ cho rằng, đất ở, đất sản xuất gắn bó với người dân lâu dài, là tài sản của họ nên áp dụng chế độ tư hữu để khuyến khích bảo tồn, đầu tư và sử dụng hiệu quả theo nguyên tắc thị trường (nghĩa là lĩnh vực nào giá đất cao thì chuyển đất vào đó sử dụng) và hạn chế sự lạm dụng của cơ quan nhà nước trong thu hồi, giao đất. Tuy nhiên, họ không tính đến sự phân hóa giàu nghèo như đã bàn đến trên kia, vì đất ở và đất sản xuất chiếm hầu hết diện tích đất tự nhiên của quốc gia và nó cũng là đối tượng gây tranh chấp nhất. Hơn nữa, một đất nước, muốn có ổn định căn bản phải đảm bảo an ninh lương thực, phải sử dụng tổng quỹ đất theo quy hoạch chung hiệu quả. Khi đó, đất chỉ có thể giao dịch trong khuôn khổ mục đích sử dụng đất theo quy hoạch. Mà giao dịch quyền sử dụng đất trên thị trường thứ cấp đã được Nhà nước Việt Nam cho phép và tạo điều kiện thủ tục hành chính ngày càng thông thoáng hơn theo thông lệ quốc tế. Nói cách khác, do đất đai là một hàng hóa đặc biệt, quyền của chủ sở hữu đất bị giới hạn nhiều mặt nên thị trường đất đai không thể điều tiết việc phân bổ đất đai cho các lĩnh vực một cách hiệu quả như các loại thị trường khác. Đó là chưa nói đến những khuyết tật nói chung của thị trường làm cho nó không hoàn hảo như mong ước của những người ủng hộ thị trường tự do, đả phá sự can thiệp của nhà nước. Ngược lại, thị trường đất đai cần có sự quản lý, điều tiết của nhà nước mới có thể hoạt động hiệu quả. Thị trường quyền sử dụng đất trong khung khổ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai tạo đủ dư địa cho điều tiết thị trường đối với từng loại đất theo quy hoạch của nhà nước.  

    Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai không phủ nhận quyền sử dụng đất của các pháp nhân như nhà thờ, cộng đồng dân bản, tổ chức chính trị, xã hội khác. Chế độ sở hữu toàn dân chỉ yêu cầu các chủ thể này sử dụng đất đúng mục đích được giao cũng như bảo hộ lợi ích của chủ sử dụng đối với tài sản của họ là quyền sử dụng đất. Những quyền khác của chủ sở hữu như chuyển mục đích sử dụng hoặc ngăn cản cơ quan nhà nước thu hồi đất vì mục tiêu chung thì phải trao cho cơ quan đại diện chủ sở hữu toàn dân là nhà nước. Cách ứng xử như vậy không khác là mấy ở các nước duy trì chế độ sở hữu tư nhân nếu xét về hiệu quả và mục đích xã hội của sử dụng quỹ đất quốc gia. Vậy tại sao lại cần đa sở hữu khi chế độ sở hữu toàn dân đã giải quyết được các quan hệ đất đai và mục đích sử dụng đất một cách hợp lý.

    Có thể thấy, việc lựa chọn chế độ sở hữu toàn dân trong điều kiện của Việt Nam hiện nay là hợp lý thể hiện ở những giác độ sau:

    Thứ nhất, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai phù hợp với định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường Việt Nam. Bản chất của định hướng xã hội chủ nghĩa là xây dựng một xã hội bình quyền, trong đó con người không những được tự do, bình đẳng về mặt chính trị, mà còn được tự do, bình đẳng về mặt kinh tế, tức tự do, bình đẳng về sở hữu tư liệu sản xuất quan trọng nhất của Việt Nam hiện nay là đất đai. Sở hữu toàn dân về đất đai là chế độ sở hữu chung của toàn xã hội vì lợi ích của toàn dân tộc Việt Nam. Trong chế độ sở hữu toàn dân, một số quyền được giao cho cơ quan nhà nước, một số quyền được giao cho người dân (cá nhân, gia đình hoặc tập thể) là thể chế giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích chung và lợi ích riêng, là tạo điều kiện cho người sử dụng đất phát huy nguồn lực đất đai phục vụ phát triển kinh tế, thỏa mãn nhu cầu và lợi ích của họ, đồng thời cũng tạo điều kiện để nhà nước điều tiết quan hệ đất đai có lợi cho lợi ích quốc gia, chống lại xu hướng dùng quyền sở hữu đất để nô dịch lao động của người khác.

    Thứ hai, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai phù hợp với mục tiêu cải thiện điều kiện sống của người lao động, tức người sử dụng trực tiếp đất đai. Ngoài những lợi ích chung phải được tôn trọng như quyền tổ chức hiệu quả việc sử dụng đất (bằng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của Nhà nước), quyền thu địa tô tuyệt đối và địa tô chênh lệch không do người sử dụng đất tạo ra, quyền thu hồi đất vì lợi ích xã hội, mọi quyền liên quan đến sử dụng đất hiệu quả khác đều được giao cho người sử dụng đất. Thị trường quyền sử dụng đất chỉ bị giới hạn bởi việc không được chuyển mục đích sử dụng đất và thời hạn giao đất. Thời hạn giao đất có thể thay đổi theo hướng kéo dài hơn để đảm bảo người dầu tư thu hồi được giá trị đầu tư, nhưng không vì lợi ích của cá nhân mà làm giảm lợi ích chung của xã hội, tức tuân thủ quy hoạch sử dụng đất và giá trị tăng thêm từ đất không do nhà đầu tư tạo ra phải trả về cho xã hội dùng chung. Trong một báo cáo về đất đai xuất bản năm 2004 của Ngân hàng Thế giới nhóm nghiên cứu đã thừa nhận thị trường quyền sử dụng đất của Việt Nam đã có thể phân bổ đất đai cho các chủ thể sử dụng đất hiệu quả không thua kém thị trường đất đai ở các nước khác4. Nói cách khác, quyền sử dụng đất theo Luật đất đai năm 2013 của Việt Nam tạo dư địa đủ rộng cho các giao dịch thị trường trong cùng một mục đích sử dụng đất.

    Thứ ba, sở hữu toàn dân tạo điều kiện để nhà nước xã hội chủ nghĩa có thể chủ động trong kiểm soát nguồn tài nguyên đất đai cũng như điều tiết các quan hệ lợi ích đất đai có lợi cho quốc gia, cho người sử dụng đất trực tiếp. Với vai trò đại diện chủ sở hữu toàn dân, Nhà nước vừa có thể giao đất, thu hồi đất với các chế độ không thu tiền, có thu tiền, có bồi thường, không bồi thường… phù hợp với lợi ích của người sử dụng đất hiệu quả, hỗ trợ người nghèo, tạo quỹ đất cho quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa đất nước mà không phải thỏa thuận quá lâu, quá phức tạp với các chủ thể sở hữu tư nhân. Tất nhiên, xét về lợi ích tư nhân, những người được giao đất hoặc bị thu hồi đất có thể có những lợi ích khác nhau. Vấn đề trong tầm tay của Nhà nước với chế độ sở hữu toàn dân là điều chỉnh những chính sách cục bộ trong khung khổ sở hữu toàn dân chứ không phải bó tay trước quyền sở hữu tư nhân của người chiếm giữ đất. Sở hữu toàn dân cũng tạo thuận lợi cho quản lý nhà nước bằng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và nâng cao hiệu quả tổng thể của sử dụng quỹ đất quốc gia.

    Thứ tư, duy trì sở hữu toàn dân trong điều kiện hiện nay là cách làm tốt nhất để ổn định kinh tế, chính trị, xã hội. Nếu tuyên bố tư hữu đất đai, sẽ diễn ra các cuộc tranh đấu đòi lại quyền sở hữu nhà, đất trong quá khứ, sẽ có cuộc lục soát lại những gì chúng ta đã làm trong cải cách ruộng đất, trong thu hồi đất, nhà đã chia cho cán bộ và dân chúng những năm sau chiến tranh… Chẳng có gì lý giải được tư hữu của chúng ta bây giờ tốt hơn tư hữu thời trước khi vào hợp tác xã. Cũng không bõ công khi rũ rối lịch sử để rồi không đem lại lợi ích thực tế gì. Tại sao không sửa đổi theo tiến trình lịch sử, sử dụng những điều kiện đã có để tiến tới những điều kiện tốt hơn, trong đó quyền của dân chúng đối với đất đai vẫn được bảo toàn mà xã hội không lâm vào tình trạng nồi da nấu thịt.

    Cần phải tiếp cận sở hữu đất đai một cách hiện thực theo những quyền mà sở hữu đất đai có được và phân chia quyền đó một cách hợp lý giữa người dân và cơ quan nhà nước bằng Luật Đất đai. Nếu Luật Đất đai có quy định gì không hợp lý thì dân chúng và nhà nước có quyền sửa đổi. Không thể quy những hạn chế của Luật Đất đai hiện hành cho chế độ sở hữu toàn dân. Điều kiện cần của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai là xây dựng được hệ thống quản lý nhà nước về đất đai một cách minh bạch, cải cách thủ tục hành chính và cung cấp đầy đủ thông tin liên quan đến quyền sử dụng đất để người sử dụng đất yên tâm đầu tư cũng như có thể sử dụng cơ chế nhà nước bảo vệ lợi ích chính đáng của mình. Tăng cường các thiết chế kiểm soát quyền lực của cơ quan quản lý đất đai, công chức quản lý đất đai nhằm hạn chế hành vi lạm quyền, lợi dụng chức vụ tham nhũng trong lĩnh vực đất đai. Chế độ sở hữu toàn dân sẽ được nhân dân ủng hộ khi cơ quan nhà nước bảo hộ hợp lý quyền tài sản đối với quyền sử dụng đất của các chủ thể kinh tế, tạo cơ sở pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất hoạt động hiệu quả. Việc thu hồi đất phải được cân nhắc thận trọng đảm bảo hài hòa lợi ích cá nhân người sử dụng đất bị thu hồi và lợi ích quốc gia. Thủ tục, quy trình, chính sách thu hồi đất phải minh bạch, công khai, hài hòa lợi ích giữa người bị thu hồi đất và người được giao sử dụng cùng thửa đất nhằm tạo sự đồng thuận trong nhân dân. Khi đó, chế độ sở hữu toàn dân không mâu thuẫn với kinh tế thị trường, không gây khiếu kiện kéo dài, đồng thời lại tạo dư địa cho mọi chủ thể kinh tế thực hiện nhiệm vụ của họ một cách thuận lợi

    Tóm lại, đất đai thuộc sở hữu toàn dân, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, Nhà nước được nhân dân trao cho quyền thống nhất quản lý đất đai, Nhà nước được thay mặt cho nhân dân trao quyền sử dụng đất đai cho tổ chức, cá nhân đúng pháp luật để phát triển kinh tế - xã hội nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh vững bước lên chủ nghĩa xã hội.

     

    1. Sở hữu tư nhân về đất đai là tất yếu, http://m.vie tinfo.eu/luat-vn/tu-huu-d%E1%BA%A5t-dai-tai-sa o-khong-.html.

    2. Đa sở hữu về đất đai sẽ “cởi trói được nhiều vấn đề”, http://vneconomy.vn/dia-oc/da-so-huu-dat-dai-se-coi-troi-duoc-nhieu-van-de-20121107074357495. htm; Vũ Xuân Tiền: Cần Thừa nhận đa sở hữu về đất đai, https://congthuong.vn/can-thua-nhan-da-so-huu-ve-dat-dai-2845.html.

    3. Vụ Đồng Tâm: Đã đến lúc nhà nước Việt Nam làm “cách mạng lại” về đất đai, ngày 8 - 9 - 2020 https://www.bbc.com/vietnamese/vietnam-54076413

    4. Ngân hàng Thế giới: Chính sách đất đai cho tăng trưởng và xóa đói, giảm nghèo, Nxb VHTT, H, 2004.

    • Năm phát hành
    • Đang truy cập:18
    • Hôm nay: 217
    • Tháng hiện tại: 29563
    • Tổng lượt truy cập: 97698
    Địa chỉ: Số 232 Nguyễn Công Trứ, Tp. Đà Nẵng
    Liên hệ: 02363.831.174
    Fax: 02363.844.611