Quá trình thiết lập, khai thác và quản lý liên tục của Việt Nam đối với chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thông qua “Đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải” dưới Triều Nguyễn

    18/09/2020 05:12 PM


    Tượng đài Đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải (Nguồn: tác giả chụp thực địa)

    Thời gian qua, Biển Đông trở thành vấn đề chính trị, ngoại giao, an ninh và quốc phòng nhạy cảm và phức tạp trong quan hệ giữa các nước trong và ngoài khu vực liên quan đến tranh chấp chủ quyền, các hoạt động gây mất an ninh và ổn định ở khu vực, nhất là những tuyên bố chủ quyền đơn phương, thành lập cái gọi là “Tam Sa”, “Tứ Sa”, các tuyên bố “Đường 9 đoạn” hay “Chữ U”, “Lưỡi Bò”… Đây là những tuyên bố phi pháp, vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với Biển Đông, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã được lịch sử và các cơ sở pháp lý khẳng định.

    Về mặt lịch sử, việc xác lập, khai thác và quản lý chủ quyền liên tục đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam đã được thực hiện từ rất sớm. Một trong số đó có thể kể đến là việc thành lập và hoạt động của Đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải dưới thời Chúa Nguyễn. Sự kiện này đã được sử sách của Nhà Lê, Nhà Nguyễn ghi chép đầy đủ. Theo sử sách, vào khoảng cuối thế kỷ 16, đầu thế kỷ 17, để tăng cường quản lý vùng biển đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Chúa Nguyễn đã lập ra đội hùng binh Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải do Triều đình quản lý và chỉ đạo hoạt động. Trong “Phủ biên tạp lục” của Lê Quý Đôn đã chép về hoạt động của Đội Hoàng Sa như sau: “Trước họ Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào, cắt phiên mỗi năm cứ tháng 2 nhận giấy sai đi, mang lương đủ ăn 6 tháng, đi bằng năm chiếc thuyền câu nhỏ, ra biển 3 ngày 3 đêm thì đến đảo ấy... Đến kỳ tháng 8 thì về, vào cửa Eo, đến thành Phú Xuân để nộp, cân và định hạng xong, mới cho đem bán riêng các thứ ốc vân, hải ba, hải sâm, rồi lĩnh bằng trở về. Lượm được nhiều ít không nhất định, cũng có khi về người không…”(1). Còn đối với các đảo còn lại ở trong Nam, trong đó có Trường Sa thì: “Họ Nguyễn lại đặt đội Bắc Hải, không định bao nhiêu suất, hoặc người thôn Tứ Chính ở Bình Thuận, hoặc người xã Cảnh Dương, ai tình nguyện đi thì cấp giấy sai đi, miễn cho tiền sưu cùng các tiền tuần đò, cho đi thuyền câu nhỏ ra các xứ Bắc Hải, cù lao Côn Lôn và các đảo ở Hà Tiên, tìm lượm vật của tàu và các thứ đồi mồi, hải ba, bào ngư, hải sâm, cũng sai cai đội Hoàng Sa kiêm quản. Chẳng qua là lấy các thứ hải vật, còn vàng bạc của quý ít khi lấy được”(2). Sách “Đại Nam nhất thống chí” của Quốc sử quán Triều Nguyễn cũng chép: “Hồi đầu bản triều, đặt đội Hoàng Sa, có 70 người, lấy dân xã An Vĩnh sung vào, hàng năm cứ tháng 3, là ra biển tìm kiếm hải vật, đến tháng 8, thì do cửa biển Tư Hiền về nộp; lại đặt đội Bắc Hải, do đội Hoàng Sa kiêm quản, để đi lấy hải vật ở các đảo… Đầu đời Gia Long phỏng theo lệ cũ đặt đội Hoàng Sa, sau lại bỏ; đầu Minh Mệnh, thường sai người đi thuyền công đến đấy thăm dò đường biển, thấy một nơi có cồn cát trắng chu vi 1.070 trượng, cây cối xanh tốt, giữa cồn cát có giếng, phía tây nam cồn có ngôi miếu cổ, không rõ dựng từ thời nào, có bia khắc bốn chữ “vạn lí ba bình”(muôn dặm sóng yên). Đảo này xưa gọi là núi Phật tự, phía đông và phía tây đảo đều là đá san hô, mọc vòng quanh ở mặt nước; về phía tây bắc tiếp với đá san hô nổi lên một cồn chu vi 340 trượng, cao 1 trượng 2 thước ngang với cồn cát, gọi là đá Bàn Than, năm Minh Mệnh thứ 16, sai thuyền công chở gạch đá đến đấy xây đền, dựng bia đá ở phía tả đền để ghi dấu và tra hột các thứ cây ở ba mặt tả hữu và sau. Binh phu đắp nền miếu đào được lá đồng và gang sắt có đến hơn 2.000 cân(3). Sách “Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú còn ghi: “Các đời Chúa Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 người, người làng An Vĩnh thay phiên nhau đi lấy những hải vật. Hàng năm cứ đến tháng 3, khi nhận được mệnh lệnh sai đi, phải đem đủ 6 tháng lương, chở 5 chiếc thuyền nhỏ ra biển, 3 ngày 3 đêm mới đến đảo ấy... Đến tháng 8 thì đội ấy lại về, vào cửa Yêu môn đến thành Phú Xuân, đưa nộp”(4). Sách Đại Nam Thực Lục Chính Biên Đệ Nhị Kỷ, chép rằng từ năm Minh Mạng thứ 17 (1836), Bộ Công tấu vua hằng năm cho cử người ra Hoàng Sa cắm cột mốc, dựng bia chủ quyền và đo đạc thủy trình, vẽ bản đồ. Vua Minh Mạng phê chuẩn trong bản tấu của Bộ Công ngày 12/2/1836 rằng: Mỗi thuyền vãng thám Hoàng Sa phải đem theo 10 tấm bài gỗ dài 4,5 thước, rộng năm tấc, dày một tấc làm cột mốc(5)

    Từ các tài liệu cho thấy, Đội Hoàng Sa phiên chế gồm 70 người, có một đội trưởng chỉ huy, chịu sự điều hành của Bộ Công, thậm chí có khi nhà Vua trực tiếp quyết định những việc hệ trọng. Hoạt động của Đội Hoàng Sa được các sách ghi chép liên tục, cho thấy vai trò của nó rất được coi trọng. Những người lính Hoàng Sa có tổ chức chặt chẽ, tính kỷ luật cao, hoạt động có hiệu quả, được khen thưởng và xử phạt công minh, được miễn thuế sưu dịch, thuế nông nghiệp… Đội trưởng đội Hoàng Sa còn phụ trách luôn đội Bắc Hải để kiểm soát các đảo ở phía nam như Trường Sa, Côn Lôn và một số đảo khác. Đội Hoàng Sa buổi đầu chiêu mộ từ ngư dân xã An Vĩnh thuộc Phủ Bình Sơn (ở đất liền) và ngư dân phường An Vĩnh, An Hải trên đảo Lý Sơn. Về sau, đội Hoàng Sa chỉ chiêu mộ ngư dân An Vĩnh, An Hải trên đảo Lý Sơn. Định suất 70 người của đội Hoàng Sa do triều đình quy định được chia đều cho các dòng họ sinh sống ở đây. 70 người lính Hoàng Sa đi trên 5 chiếc ghe bầu mang theo lương thực, nước uống. Hành trang của mỗi người lính Hoàng Sa gồm: 1 đôi chiếu, 7 đòn tre, 7 sợi mây buộc dài và 1 thẻ bài ghi rõ danh tính, bản quán, phiên hiệu. Tháng 8 là thời điểm người lính từ Hoàng Sa và Trường Sa trở về kinh thành Huế để lãnh văn bằng trở về quê. Nhưng có những người mãi mãi nằm lại với biển cả không bao giờ trở về. Tuy nhiên, cũng có những người lính trong hải đội Hoàng Sa chết mất xác trên biển được người dân nặn tượng hình nhân bằng đất sét, lập đàn cúng lễ chiêu hồn nhập cốt, sau đó đem cốt tượng hình nhân an táng thành ngôi mộ chung gọi là mả liếp (hay mả gió). Anh linh những người lính Hoàng Sa được thờ cúng ở đền Âm Linh tự và các nhà thờ dòng họ. Do vậy, di tích Mộ lính Hoàng Sa và đền Âm Linh tự có mối quan hệ hữu cơ và cùng chung trong một quần thể di tích về Hoàng Sa.

    Như vậy, có thể khẳng định rằng: Đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải chính là những người đầu tiên xác lập chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa liên tục trong nhiều thế kỷ, bắt đầu từ cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII cho đến giữa thế kỷ XIX. Trong quá trình hoạt động của mình, Đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải không chỉ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao mà còn hun đúc nên nhiều thế hệ lính Hoàng Sa can trường và dũng cảm, đã có công trong việc đo đạc thủy trình, vẽ bản đồ quần đảo Hoàng Sa vào năm 1815, nhất là đã dựng bia chủ quyền đầu tiên của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa vào năm 1838.

    Những ghi chép về hoạt động của Đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải trong các tài liệu lịch sử, gia phả của những dòng họ lớn cùng những di tích lịch sử - văn hóa mang dấu tích hoạt động của Đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải trên đảo Lý Sơn là nguồn tư liệu hết sức phong phú, cụ thể, sinh động, là nguồn di sản vô giá, minh chứng hiển nhiên rằng chủ trương vươn ra biển, quản lý và khai thác ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cùng một số đảo khác của Nhà nước phong kiến Việt Nam đã được thực thi đầy đủ, trọn vẹn và liên tục trong nhiều thế kỷ. Bên cạnh đó, các nguồn tư liệu chính thống là các Châu bản, Bản tấu, các cuốn biên niên sử và địa chí - lịch sử do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn như: Đại Nam thực lục, Đại Nam nhất thống chí, Khâm định Đại Nam hội điển sử lệ… ; các tư liệu trong dân gian như đơn trình, gia phả, tộc phả, thơ ca…; nguồn tài liệu do các học giả viết với tư cách cá nhân như Phan Huy Chú với “Lịch triều hiến chương loại chí”, Lê Quý Đôn với “Phủ biên tạp lục”, Nguyễn Thông với “Việt sử cương giám khảo lược”; các tài liệu do người nước ngoài viết như “Hải ngoại kỷ sự” của nhà sư Thích Đại Sán (Trung Quốc) viết năm 1696, nhật ký, bút ký của các Giáo sỹ phương Tây; hệ thống các bản đồ có liên quan đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa như: Bản đồ Biển Đông (Sinensis Oceanus) của anh em nhà Van Langren người Hà Lan in năm 1595, Bản đồ hàng hải Meccato in năm 1633…; nhất là những Tuyên bố của các Hội nghị quốc tế có liên quan đến Hoàng Sa và Trường Sa như Tuyên bố Cai-rô (27/11/1943), Tuyên bố Postdam (26/7/1945) hay Hòa ước San Francisco (8/9/1951)… đã không xác nhận chủ quyền của bất cứ quốc gia nào khác đối với hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa của Việt Nam. Đây là một trong những cơ sở lịch sử, chính trị, pháp lý quan trọng khẳng định chủ quyền và sự quản lý liên tục của Việt Nam đối với hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.

    Tác giả: Tuấn Nguyễn

     

    Chú thích:

    (1), (2). Lê Qúy Đôn (1972), Phủ biên tạp lục, Nhà Văn hóa xuất bản, Sài Gòn, tr. 155.

    (3). Quốc sử quán triều Nguyễn (1964), Đại Nam nhất thống chí (Quyển 6), Sài Gòn, tr. 422 - 423.

    (4). Phan Huy Chú (1992), Lịch triều hiến chương loại chí (Quyển 5, Mục Dư địa chí), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr. 167.

    (5). TTXVN, “Kho sử quý về hải đội Hoàng Sa, Trường Sa”, http://hoangsa.danang.gov.vn/index.php/thong-tin-tu-li-u/tu-li-u-l-ch-s/97-kho-s-quy-ve-h-i-d-i-hoang-sa-tru-ng-sa.

    • Năm phát hành
    • Đang truy cập:18
    • Hôm nay: 153
    • Tháng hiện tại: 26193
    • Tổng lượt truy cập: 417367
    Địa chỉ: Số 232 Nguyễn Công Trứ, Tp. Đà Nẵng
    Liên hệ: 02363.831.174
    Fax: 02363.844.611